Thần Học

Án tử hình và những hậu quả khi hiểu theo nghĩa đen St 9,6

936   2023-10-17 20:14:33

ÁN TỬ HÌNH VÀ NHỮNG HẬU QUẢ KHI HIỂU THEO NGHĨA ĐEN ST 9,6

Nathan Mastnjak

Đức Giáo hoàng Phanxicô gây không ít tranh cãi khi sửa đổi số 2267 trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo [SGLHTCG] để khẳng định: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận được vì nó tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người[1]. Tất nhiên, vấn đề là giáo huấn Công giáo trước đây, bao gồm số 2267 cũ, đã không loại trừ khả năng cho phép về mặt luân lý hình phạt tử hình trong một số hoàn cảnh nhất định.

Cuộc tranh cãi đã và đang nảy sinh là liệu Đức Phanxicô có phát triển giáo thuyết cách trung thành và có hệ thống hay phải chăng ngài chỉ đơn thuần trái nghịch với giáo huấn Công giáo đã có hàng thế kỷ. Đáp lại sự thay đổi này trong SGLHTCG, Edward Feser viết:

Giáo hội luôn rõ ràng và nhất quán dạy rằng án tử hình về nguyên tắc phù hợp với luật tự nhiên và Tin mừng. Điều này được chỉ dẫn xuyên suốt Kinh thánh – từ St 9 đến Rm 13 và nhiều điểm khác trong đó – và Giáo hội khẳng định Kinh thánh không sai lầm về luân lý[2].

Đối với những người bất đồng với giáo huấn của Đức Phanxicô về hình phạt tử hình, thì nền tảng Kinh thánh rõ ràng đối với án tử hình thật đáng chú ý. Trong luận cứ Kinh thánh về tính luân lý của án tử hình, St 9 –thuật lại giao ước của Thiên Chúa với Nôê– đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, chính bởi vì qua Nôê giao ước này hướng đến toàn thể nhân loại chứ không chỉ giới hạn trong chế độ thần quyền của Israel. St 9 dường như đặt án tử hình như một nguyên tắc chung của luật tự nhiên và do đó có thể áp dụng và về mặt lý thuyết có thể được mọi xã hội loài người sử dụng.

Câu Kinh thánh then chốt mà Feser nói đến và từ đó xuất phát tiêu đề cuốn sách của ông và Joseph M. Bessette về chủ đề án tử hình[3] là St 9,6: “Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa”[4] [“Whoever sheds the blood of a human, by a human shall that person’s blood be shed; for in his own image God made humankind” (NRSV)]. Thoạt nhìn, ý nghĩa câu này có vẻ rõ ràng. Những người xâm phạm tính thánh thiêng của hình ảnh Thiên Chúa nơi con người qua hành vi giết người thì bị trừng phạt bằng án tử do con người thực hiện. Vấn đề là bản dịch cụm từ quan trọng “bị con người” [“by a human”] – dù phổ biến trong các bản dịch tiếng Anh – có thể không thể hiện được nội dung thực sự của bản văn Do Thái.

Vấn đề dịch thuật xoay quanh chính phần ám chỉ rõ ràng đến án tử trong St 9,6: “. . . thì máu nó sẽ bị con người đổ ra” [“By a human shall that person’s blood be shed”]. Để giải thích điều này đòi hỏi phải liều đi vào cả ngữ pháp tiếng Anh và Do Thái. Trong bản dịch tiếng Anh của St 9,6, động từ “be shed” ở thể bị động và chủ thể hành động được diễn tả qua cụm giới từ “by a human”. Việc diễn tả chủ thể của một động từ thể bị động là điều hoàn toàn đúng ngữ pháp và phổ biến trong tiếng Anh.

Ngược lại, tiếng Do Thái cổ hầu như không bao giờ diễn tả chủ thể của động từ bị động. Thật vậy, sự tồn tại đích thực của bất kỳ ví dụ nào về chủ thể của loại động từ bị động như thế đang được các nhà ngữ pháp tranh luận[5]. Nếu có tồn tại thì các ví dụ này cũng rất hiếm. Trong số hàng trăm động từ ở thể bị động trong Kinh thánh Do Thái, các nhà ngữ pháp chỉ có thể tìm thấy một số ít trường hợp thể có thể xảy ra, trong đó diễn tả rõ chủ thể của động từ bị động. Dịch là “thì máu nó sẽ bị con người đổ ra” không phải là hoàn toàn không thể, nhưng xét theo tiêu chuẩn của ngữ pháp Do Thái cổ, nó trước hết [prima facie] được xem là không thể, nhất là vì có một cách dịch hợp lý hơn nhiều, phù hợp với ngữ cảnh và bình thường về ngữ pháp. Câu đang đặt vấn đề sử dụng giới từ b- trong tiếng Do Thái [בָּֽאָדָ֖ם bā-’ā-ḏām], có nhiều chức năng và ý nghĩa. Một trong những nghĩa thông thường của b- là diễn tả giá cả hoặc sự trao đổi, và cách dùng này cho bản văn một ý nghĩa hợp lý. Không phải “by a human shall that person’s blood be shed” nhưng là “for the human shall that person's blood be shed”. Cụm giới từ không diễn tả chủ thể gây đổ máu kẻ sát nhân; nó khẳng định rằng máu kẻ sát nhân bị đổ ra để cho [hay trả giá cho – for] người mà kẻ sát nhân đã giết.

Ngay điểm này, kẻ hay gièm pha có thể bắt lỗi lập luận này là thông thái rởm. Có thể cách dịch truyền thống là sai, nhưng bản văn có thể ám chỉ điều gì khác ngoài án tử hình? Ngay cả khi St 9,6 không nói rõ máu kẻ sát nhân sẽ “bị con người” đổ ra, thì chắc chắn ngữ cảnh cũng ngụ ý rằng kẻ sát nhân sẽ bị con người xử tử, phải không?

Trên thực tế, bối cảnh cung cấp một chủ thể tìm ẩn khác chịu trách nhiệm đổ máu kẻ sát nhân, có lẽ gây ngạc nhiên ban đầu. Chúng ta không cần tìm kiếm bối cảnh xa hơn câu trước đó, St 9,5: “Nhưng Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình”. [“But indeed I will seek your blood for your lives. From every beast I will seek it. From the hand of man, each man for his brother, I will seek the blood of a man” (bản dịch tiếng Anh của tác giả)].

Trong một số ngữ cảnh, “to seek the blood” hoặc đơn giản là “to seek” với chủ ngữ là Thiên Chúa mang nghĩa đơn giản là “báo oán”. Vì vậy bản dịch NRSV “May the LORD see and seek” cũng giống “May the LORD see and avenge” (2Sb 24,22)[6], và “For he who seeks blood is mindful of them” cũng giống “For he who avenges blood is mindful of them” (Tv 9,13)[7]. Ý nghĩa tương tự cũng được áp dụng cho St 9,5, câu này phải được dịch là: “But indeed I will avenge your blood for your lives. From every beast I will avenge it. From the hand of man, each man for his brother, I will avenge the blood of a man” (bản dịch tiếng Anh của tác giả).

Như một phần giao ước với Nôê, Thiên Chúa thiết lập một số thay đổi trong thế giới cũng như tương quan của chính Ngài với nó. Về cơ bản, Ngài thay đổi tương quan giữa con người và loài vật, khiến loài vật khi sinh ra đã sợ con người (St 9,2), và cho phép con người ăn thịt loài vật nhưng cấm tiêu thụ máu loài vật (St 9,4). Ngoài ra, trong St 9,5, Thiên Chúa cam kết một cách thức can thiệp nhiệm mầu vào thế giới – nhưng không nói bằng cách nào – khi chính Ngài sẽ can thiệp cách nào đó để báo oán bất kì thụ tạo nào, con người cũng như loài vật, xâm phạm tính thánh thiêng của sự sống con người. Cam kết báo oán bằng máu bất kì kẻ sát nhân nào giải thích cho câu Kinh thánh theo sau, St 9,6, và đưa ra một chủ thể mà điểm ngữ pháp không chỉ ra. Ai sẽ đổ máu kẻ sát nhân? Chính Thiên Chúa.

St 9,5–6 đặt ra những vấn đề quan trọng mà bản văn không đề cập. Làm thế nào Thiên Chúa sẽ báo oán bằng máu cả loài vật cũng như loài người? Ở đây, như nhiều lần trong Kinh thánh, Ngài chỉ đơn giản không nói. Tuy nhiên, ý tưởng căn bản này trải dài trong Kinh thánh. Ví dụ, Đnl 29,19–21 chứa đựng lời hứa rằng khi một cá nhân – đối lại với toàn thể quốc gia – vi phạm giao ước, Thiên Chúa sẽ tách nó ra để trừng phạt. Thiên Chúa sẽ “sẽ tách nó ra” và “xoá tên nó không còn dấu vết trong thiên hạ”. Liệu nó sẽ bị bỏ chết? Hay phải đi lưu đày? Bản văn không nói, nhưng cách này hay cách khác cho biết Thiên Chúa sẽ thực hiện sự phán xét này. Văn chương khôn ngoan chứa đầy những đảm bảo rằng kẻ gian ác ắt phải chuốc họa, và ngôn sứ Êdêkien khẳng định rõ nhất có thể: “Ai phạm tội, kẻ ấy phải chết” (Ed 18,20). St 9,5–6 thuộc dòng chảy tư tưởng này, khẳng định rằng Thiên Chúa đảm bảo kẻ sát nhân sẽ chịu trừng phạt.

St 9,6 được cho là hậu thuẫn những người ủng hộ án tử (và những kẻ chỉ trích Đức Phanxicô) không rõ ràng như thường nghĩ. Cả ngữ pháp và ngữ cảnh nhắm vào câu này không nói gì về án tử hình do chính con người thực hiện, nhưng đúng hơn nói về đặc quyền của Thiên Chúa trong việc thi hành sự phán xét. Nếu được liệt kê ra để lập luận cho hình phạt tử hình, câu này trên thực tế có thể được đưa ra để lập luận chống lại án đó.

St 9 không đưa ra điều khoản nào cho con người để hành quyết kẻ sát nhân. Ở đây chỉ có Thiên Chúa mới có quyền thi hành sự phán xét trên kẻ sát nhân. Do đó, St 9,6 có thể được hiểu là diễn đạt cùng một nguyên tắc chung có trong Đnl 32,35 và được thánh Phaolô trích dẫn: “Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó, vì có lời chép: Đức Chúa phán: Chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả” (Rm 12,19).

Tất nhiên, những nhận xét này về St 9,6 không giải quyết được câu hỏi về tính luân lý của hình phạt tử hình hay là việc Đức Phanxicô sửa lại SGLHTCG nên được hiểu như thế nào trong tương quan với giáo huấn Giáo hội trước đó. Tuy nhiên, chúng cho thấy nếu tìm sự ủng hộ án tử hình nơi Kinh thánh, thì sự ủng hộ này không nằm nơi đoạn St 9 nói về giao ước với Nôê. 

Gioan Quốc Trầm chuyển ngữ từ Church Life Journal | University of Notre Dame (12/9/2023)

 

[1] Bộ Giáo lý Đức tin cho biết Bộ đã sửa đổi về án tử hình nơi số 2267 của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó án tử hình là điều không thể chấp nhận được. Quyết định này được Bộ Giáo lý Đức tin công bố trong “Thư gửi các Giám mục” đề ngày 01 tháng 8 năm 2018, do Đức Hồng y Bộ trưởng Luis Francisco Ladaria ký tên. X. https://tgpsaigon.net/bai-viet/noi-dung-moi-cua-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chap-nhan-45206. Chú thích của người dịch [ND].

[2] Edward Feser, “Pope Francis and Capital Punishment,” First Things, 8/13/2018.

[3] Edward Feser and Joseph M. Bessette, By Man Shall His Blood Be Shed: A Catholic Defense of Capital Punishment (San Francisco: Ignatius, 2017).

[4] Những trích dẫn Kinh thánh tiếng Việt trong bài lấy từ bản dịch của Nhóm Phiên dịch CGKPV. Cuốn sách của E. Feser và J. M. Bessette có tựa đề By Man Shall His Blood Be Shed: A Catholic Defense of Capital Punishment. [ND].

[5] Ví dụ, x. Bruce K. Waltke and M. O’Connor, An Introduction to Biblical Hebrew Syntax (Winona Lake: Eisenbrauns, 1990), 383, 385. Họ xem kiểu diễn tả chủ thể bị động nơi động từ Niphal [thường đi với tiền tố nun (נ‎)] là có nhưng “hiếm”. So sánh bài điểm sách của Dennis Pardee về cuốn An Introduction to Biblical Hebrew Syntax, Bruce K. Waltke and M. O’Connor, Journal of Near Easter Studies 53 (1994), 151, trong số những nhận xét nhìn chung rất tích cực về cuốn Syntax của Waltke và O’Connor, Pardee phê bình thảo luận của họ về chủ thể bị động là sự áp đặt quan điểm Ấn-Âu của hai tác giả lên ngôn ngữ Sêmít và cũng đưa ra một sự phân tích thay thế cho những ví dụ của họ về chủ thể bị động được biểu thị. Xem thêm Paul Joüon and T. Muraoka, A Grammar of Biblical Hebrew (Rome: Biblico, 2006), 454, trong đó tác giả nói rằng: “Trong tiếng Do Thái (và nói chung những ngôn ngữ Sêmít cổ) việc biểu thị một chủ thể với một động từ theo hình thái học để diễn tả thể bị động thường khá hạn chế khi so sánh với nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu”.

[6] “Xin ĐỨC CHÚA nhìn xem và báo oán cho con”.

[7] “Nợ máu Chúa không tha, nhưng hãy còn nhớ mãi”.

CHÚC MỪNG VÀ CẦU NGUYỆN

Giuse Phan Thanh Liêm
Giuse Lê Văn Tín
Giuse Trần Quốc Hùng
Giuse Huỳnh Chí Khang
Giuse Nguyễn Mạnh Tường
Giuse Phạm Bảo Trường
Giuse Nguyễn Minh Trí
Giuse Võ Thái Thuận
Giuse Huỳnh Tấn Dũng
Giuse Nguyễn Mạnh Quân
Xem tất cả →