Truyền Giáo - Mục Vụ

Cái động và cái tĩnh của người tu - Một góc nhìn về ơn gọi thánh hiến

995   2022-06-19 14:18:39 CÁI ĐỘNG VÀ CÁI TĨNH CỦA NGƯỜI TU - MỘT GÓC NHÌN VỀ ƠN GỌI THÁNH HIẾN Hạt suy tư được gợi hứng từ đoạn Tin Mừng Gioan 8, 1-11 Chủng sinh Giuse Trần Văn Chương Nếu đoạn Tin mừng Ga 8, 1-11 được chuyển thể thành phim, thì chắc chắn đó sẽ là một bộ phim rất hấp dẫn, vô cùng kịch tính và đầy dãy những hình ảnh đánh động người xem đến từng chi tiết nhỏ nhất. Một cuộc giao tranh giữa động và tĩnh. Bộ phim của chúng ta được bắt đầu với một cảnh tĩnh: Sau một ngày giảng dạy nhiệt tâm, đám đông ai về nhà nấy, thì Chúa Giêsu đến Núi Ôliu nghỉ ngơi và cầu nguyện một mình cùng Chúa Cha. Sự kết hợp mật thiết giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha thì không cần phải bàn cãi. Chính Người đã khẳng định mạnh mẽ với chúng ta rất nhiều lần: Ta và Cha Ta là một. Khung cảnh trên núi Ôliu có lẽ tĩnh lắm, vì Chúa Giêsu đâu cần nói nhiều với Chúa Cha. Khi hai người đã hiểu nhau và gắn bó khăng khít đến độ nên một thì không cần phải nói gì nhiều. Ngôn ngữ của họ không còn là ngôn ngữ của lời nói nữa, nhưng là ngôn ngữ của sự hiện diện và của ánh mắt; nhiêu đó thôi cũng đã đủ để hiểu tất cả rồi! Cái tĩnh từ sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha là nguồn sức mạnh cho cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu phá vỡ sự im lặng của màn đêm: khi trời vừa sáng, Người đã trở lại đền thờ. Không khí bắt đầu xôn xao và kéo theo cảnh động vào sân đền thờ. Dân chúng đua nhau đến với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dạy. Xem ra họ rất thích đến với vị thầy Giêsu này, vì giáo lý của Người thì mới mẻ và Người dạy lại có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ. Thêm vào đó, lâu lâu Người lại ra lệnh cho các thần ô uế, rồi trừ quỷ, rồi chữa bệnh… Quả thật, có một sự sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn đến từ nội tâm, lời nói, cử chỉ và việc làm của Chúa Giêsu. Tất cả đều toát lên cái gì đó rất Chúa, đến độ người ta phải nói với nhau: Ông này thật là một vị ngôn sứ. Ông đúng thật là Đức Kitô... Cảnh phim bắt đầu sôi động hơn, khi các người Pharisêu và các kinh sư lôi một người phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giêsu. Một đám đông hầm hầm sát khí và bạo lực, phá tan bầu khí hứng thú của một buổi giảng dạy tôn giáo. Mỗi người một tiếng, kẻ thì bĩu môi, người thì chế giễu, kẻ thì chỉ chỏ, người thì kết án… Cứ thế, cái động ngày càng sôi sục của một phiên tòa đầy âm mưu và nham hiểm đã tràn ngập xung quanh Chúa Giêsu. Đến giây phút này, Người vẫn tĩnh! “Thưa Thầy, người phụ nữ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Môsê dạy chúng tôi ném đá y. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Một người Pharisêu kênh kiệu hỏi thách, để gài bẫy Chúa Giêsu. Câu hỏi thách ấy như một viên đá đầu tiên ném vào mục tiêu là Chúa Giêsu. Người phụ nữ vẫn đứng giữa họ. Lòng đầy tủi nhục, mặt mũi bết bát xấu hổ. Cái chết đang chờ chị. Sự hối hận hòa theo những giọt nước mắt ăn năn muộn màng rơi xuống ướt đôi bàn chân xinh của chị, chảy vào lòng đất khô cằn như cõi lòng những người đang đứng xung quanh chị. Đến giây phút ấy, Chúa Giêsu vẫn tĩnh – cái tĩnh của Thiên Chúa. Cái im lặng mà chúng ta vẫn thường lầm tưởng Thiên Chúa làm ngơ trước nỗi đau khổ của con người. Nhưng thực ra đâu phải như thế. Có bao giờ Thiên Chúa làm ngơ trước loài người mà Ngài đã hết lòng yêu thương và dựng nên họ vì chính họ đâu. Ngài đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài cơ mà. Có loài thụ tạo nào được như thế đâu. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta cách vô điều kiện. Chúa Giêsu đã chứng minh điều đó. Trước câu hỏi của người Pharisêu, Chúa Giêsu cúi xuống đất và bắt đầu viết. Người viết gì thì chỉ có những người ở đó biết. Nhưng dường như Người đang đan mây dệt gió để tạo một cơn mưa, cơn mưa làm dịu đi những cái đầu động, đang sùng sục sát khí, la lối và kết án. Người nói: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Câu nói ấy như một gáo nước lạnh xối thẳng vào mặt những kẻ đang thù ghét và bày mưu tính kế gài bẫy Người. Nói xong, Chúa Giêsu lại cúi mặt xuống đất lần thứ hai, như thể không muốn nhìn những con người tội lỗi sắp lìa bỏ Ngài mà đi. Thế rồi, kẻ trước người sau, từng người một, lặng lẽ bỏ đi. Cái sôi động lúc đầu giờ đã trôi đâu mất, nhường chỗ cho cái tĩnh của Chúa Giêsu và người phụ nữ. Đám đông nãy giờ quan sát cũng dần dần rút lui. Ắt hẳn họ cũng đồng tình với bản án ném đá người phụ nữ hư hỏng kia. Điều đó chứng minh một điều: họ đến với Chúa Giêsu chỉ vì vụ lợi thôi, bởi vì họ không hề hiểu gì về giáo lý và hành động yêu thương của Chúa Giêsu. Tất cả sự sôi động đã tan biến chỉ với một câu nói của Chúa Giêsu. Cái tĩnh của Người đã chiến thắng bao nhiêu cái động xung quanh Người. Tưởng như câu chuyện đã kết thúc ở đó, nhưng chưa. Còn người phụ nữ thì sao? Chúa Giêsu không kết án chị. Người không phủ nhận tội chị đã phạm, nhưng tha thứ cho chị. Tình yêu của Người luôn đi bước trước, tha thứ tất cả và chịu đựng tất cả. Giờ đây, chị không còn đứng giữa một đám đông đòi kết án chị nữa, nhưng chị đứng giữa một tình yêu bao la và lòng thương xót vô hạn của Chúa Giêsu. Chị đứng giữa một Đấng thánh luôn yêu thương chị và hiến mình vì chị và cho cả những kẻ đã kết án chị nữa, dẫu cho từ đầu tới gần cuối câu chuyện, Chúa Giêsu chỉ toàn im lặng và tĩnh mà thôi. Đó là cái tĩnh của tình yêu, cái tĩnh của sự tha thứ vô ngần của Thiên Chúa, mà con người không thể hiểu nỗi. Trong cuộc sống thường ngày, dường như chúng ta cũng động quá nhiều. Cái động có thể đến từ chính con người chúng ta, hoặc có thể do những sự kiện và biến cố xảy ra hằng ngày, hoặc cũng có thể do người khác mang lại cho chúng ta. Nhiều lúc chúng ta bị cuốn theo những cái động bên ngoài đó, nhưng vẫn cho rằng mình ổn, vì đã thành công lướt thắng được tất cả. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại coi: tâm hồn chúng ta có thật sự tĩnh và bình an không? Nếu câu trả lời là không, thì Chúa Giêsu cho chúng ta một giải pháp, để đánh tan mọi cái động đang phá đi sự bình an nội tâm của chúng ta. Cái động làm cho chúng ta thấy mình dường như trống rỗng, mất phương hướng, không tìm ra ý nghĩa của đời sống hiện tại. Cái động làm cho tâm hồn chúng ta nhạt đi, theo cái vô vị của những công việc thường ngày, chứ không còn mặn mòi như thuở ban đầu mới yêu Chúa… Đức Hồng y Robert Sarah, Tổng trưởng bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của việc ngày nay người Kitô hữu bị khủng hoảng đức tin, muốn rời bỏ Chúa và Giáo Hội, không còn quan tâm đến người khác mà chỉ sống hưởng thụ cho chính mình. Đó là vì người ta đã không còn kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể nữa. Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống đức tin và đời sống Kitô hữu. Một khi đã xa rời nguồn mạch thì làm gì có sự sống nữa? Chúng ta chỉ là những cái xác Kitô hữu không có sức sống, vì không cắm rễ vào nguồn mạch là Chúa Giêsu Thánh Thể. Tôi có quen một cha xứ nọ. Trước đây ngài là con người rất hiền hòa, vui tươi và hay quan tâm tới mọi người xung quanh. Tuy nhiên, sau khi chuyển đến một giáo xứ có nhà thờ cách khá xa nhà xứ, ngài đã dần dần thay đổi tính cách. Ngài chỉ ở trong nhà thờ mỗi khi dâng thánh lễ. Công việc bao la, công chuyện bao quanh, nào là tương giao với chính quyền đang gây khó khăn, nào là xây dựng, nào là củng cố hội đoàn… Dần dần, điếu thuốc và ly cà phê là bạn đường suy tư của ngài. Cây đàn Guitar là bạn tâm giao chia sẻ vui buồn của đời sống ơn gọi. Chiếc Smartphone là nơi ngài tìm đến, để kiếm một giải pháp cho công việc mục vụ đang làm… Cứ như thế, giờ gặp gỡ và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể đã trở thành xa sỉ đối với ngài lúc nào không hay. Và đó là lý do giải thích cho sự thay đổi tính cách của ngài. Giờ đây, ngài dễ nỗi cáu, ít cười và trầm tư hơn. Thật ra, đó cũng chính là kinh nghiệm thiêng liêng rất riêng của tôi. Năm Thần 1 và Thần 2, tôi chăm chăm vào học hành, với bao nhiêu là mục tiêu. Rốt cuộc, tôi nhận ra sau này những mục tiêu ấy cũng mục và tiêu hết thôi. Tạ ơn Chúa, sau những năm tháng miệt mài đó, Chúa đã cho tôi nhận ra hình như tôi đang đặt sai mục tiêu. Tôi đi tu đâu phải chỉ để học. Tôi đi tu là để ở lại và sống với Chúa cơ mà. Đại dịch Covid 19 làm tôi sống chậm hơn; những cái đau như nhiễm Virus Covid 19 hay đau chân cả tháng trời củng cố thêm cái chậm và cái tĩnh mà Chúa cần nơi con người tôi, để rồi, tôi khám phá ra Chúa Giêsu Thánh Thể mới là nơi tôi cần tìm đến và sống với. Từ đó, tôi thấy tâm hồn mình được bình an hơn. Và lạ thay, khi dành ít thời gian để học hơn nhưng việc học của tôi lại trở nên dễ dàng và thư thái hơn. Tôi ngủ ngon hơn, da mặt đẹp hơn, sáng hơn và bớt đi mấy nếp nhăn… Vậy thì đâu là giải pháp cho chúng ta? Chúa Giêsu đã cho chúng ta câu trả lời. Đó chính là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Thể. Hãy dành thời gian và không gian riêng tư để kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể. Đừng sợ mất thời gian ngồi trong tĩnh lặng và nên một với Chúa Giêsu Thánh Thể. Bởi vì, chính lúc đó, chúng ta đang đắm mình trong nguồn mạch sung mãn của đời sống đức tin của Giáo Hội. Chính những giây phút đó, tâm hồn chúng ta mới tìm được sự bình an đích thực. Sự bình an đủ sức giúp chúng ta chiến thắng được những cái động của thế giới xung quanh, của cái vô vị và nhạt nhẽo hay hiện diện trong đời sống cộng đoàn. Chính cái tĩnh của Chúa Giêsu Thánh Thể sẽ là nguồn sức mạnh cho cuộc sống và sứ vụ của chúng ta. Cái tĩnh ấy sẽ ban cho chúng ta có đủ sức mạnh để đánh tan mọi cái động của thế gian đang tác động lên chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể gìn giữ tất cả chúng ta. Amen.  

5 điều các giáo lý viên có thể làm tốt hơn trong năm học tới

1703   2022-07-20 11:02:22 5 ĐIỀU CÁC GIÁO LÝ VIÊN CÓ THỂ LÀM TỐT HƠN TRONG NĂM HỌC TỚI T.J. Burdick Tôi viết bài này đúng 24 giờ trước khi các con trai tôi rước lễ lần đầu. Tôi và chúng đều cảm thấy phấn khởi. Toàn thể các thánh trên thiên đàng đều hân hoan. Thế nhưng đâu đó vẫn còn một cảm giác chưa thỏa mãn. Bạn thấy đấy, tôi là giáo viên tiểu học cho đến nay đã gần 20 năm và với tư cách là một nhà giáo chuyên nghiệp, tôi cảm thấy mình biết chút ít việc giúp bọn trẻ học. Tôi được đào tạo qua nhiều hệ thống và kinh nghiệm để nhận ra những lỗ hổng trong việc phát triển học thuật, để lấp đầy những lỗ hổng đó và cho phép kiến ​​thức từ thế giới (và các tầng trời) lấp đầy tâm trí các em cho đến khi nó tuôn tràn ra những thành tựu. Nhưng năm nay, ngay tại thời điểm này, tôi cảm thấy chúng ta vẫn chưa đạt được bất cứ điều gì. Chắc chắn, các con tôi biết thêm một vài kinh, một ít câu chuyện về một số vị thánh mới, và một vài điều về bí tích Thánh Thể thực sự là gì (hoặc là ai). Nhưng tôi không tin bọn trẻ hiểu đầy đủ nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu. Tôi nghĩ không đứa trẻ nào được như vậy. Các giáo lý viên ở mọi nơi đều nhận thức sâu sắc rằng dù chúng ta nghĩ rằng mình đã dạy rất hay cho học trò về tình yêu Thiên Chúa, việc chúng ta dạy vẫn không thể so sánh với tình yêu Thiên Chúa thực sự. Vậy bạn dạy thế nào về tình yêu Thiên Chúa? Làm thế nào để sử dụng thủ bản buồn tẻ mà giáo phận yêu cầu bạn dùng để giảng dạy và từ những trang giấy vô hồn đó thắp lên ngọn lửa sự sống và tình yêu trong tâm hồn các em trong lớp giáo lý? Đây là năm gợi ý cho những ai tìm cách xem xét lại hệ thống giáo lý hiện tại. Đào tạo giáo lý viên Giảng dạy là một hành vi phức tạp của đức ái. Tại bất kỳ thời điểm nào, tâm trí giáo viên đều đang đưa ra hàng trăm, có lẽ thậm chí hàng nghìn quyết định nhỏ. Chúng có thể bao gồm từ việc lấy tông giọng nào để truyền đạt một bài học cho đến việc chọn giáo trình nào để giảng dạy. Quá trình ra quyết định đối với giáo viên, đặc biệt là giáo viên năm thứ nhất, có thể khó khăn đến mức khiến họ chọn bỏ nghề luôn (thực tế đáng buồn là hầu hết bỏ nghề trong 5 năm đầu). Vấn đề đau đầu nhất? Quản lý lớp học. Cách tối ưu duy nhất để cải thiện lớp giáo lý là đào tạo giáo lý viên biết quản lý lớp học đúng cách. Họ cần biết cách khen thưởng cố gắng của học sinh, duy trì không gian học tập tích cực và an toàn, đồng thời dập tắt ngay những hành vi tiêu cực tiềm ẩn trước khi chúng xảy ra. Tôi biết một thực tế là không phải mọi học sinh lớp giáo lý đều là những thiên thần như chúng ta mong ước, là một giáo lý viên, bạn cần biết cách thiết lập tương quan tích cực với các em để chúng có thể học biết cách mở lòng với vị Thầy tuyệt vời là Chúa Giêsu. Điều đó khởi đầu từ việc quản lý lớp học. Làm cho bài giáo lý mang tính hướng dẫn thiêng liêng nhiều hơn và bớt  tính cách là một môn học Có một sự khác biệt lớn giữa học và thực sự sống các sự kiện tôn giáo. Chúng ta đã rơi vào cái bẫy biến lớp giáo lý thành một lớp học chứ không phải một cung cách sống. Quá nhiều điều chúng ta dạy dựa trên giáo trình và thủ bản, quá nhiều đến nỗi các em liên tưởng hành trình đức tin với cấu trúc hệ thống trường lớp – nếu tôi học xong lớp này, tôi sẽ được “tốt nghiệp” và được rước lễ lần đầu hoặc thêm sức. Các lớp dự bị hôn nhân không nên như vậy (ít nhất, tôi hy vọng là không!). Ngược lại, hầu hết các chương trình dự bị hôn nhân đều có sự tham gia của một cặp vợ chồng giàu kinh nghiệm với những cặp đôi sắp cưới để hướng dẫn những gì họ mong đợi. Đó là một quá trình dễ chịu hơn, tập trung nhiều vào việc hướng dẫn thiêng liêng hơn là chỉ toàn những sự kiện phải học. Quá trình đó vượt lên trên cái cơ bản để đi vào sự huyền nhiệm. Đó là cách thức mà mọi lớp giáo lý nên theo. Gia tăng cầu nguyện Như tôi đề cập trong bài viết trước, Giáo hội dạy có ba phương thức cầu nguyện: khẩu nguyện, tâm nguyện và chiêm niệm. Ở mọi cấp độ học giáo lý, cần phải tập trung cao độ vào việc giúp các em phát triển nhiều về đời sống cầu nguyện. Điều này nên được thực hiện một cách có kế hoạch để đảm bảo các em tiến triển từ phương thức này đến phương thức kế tiếp phù hợp với sự trưởng thành của chúng (và ân sủng Thiên Chúa). Trong khi chúng ta giảng dạy với hy vọng các em học được cách sống tốt đức tin, thì chính Chúa Thánh Thần là người sau cùng mở rộng tâm trí và tâm hồn để các em đón nhận những kiến ​​thức và sự khôn ngoan đó. Chúng ta chỉ là những ống dẫn mang tính giáo dục qua đó ân sủng Thiên Chúa có thể đi vào tâm hồn các em. Cầu nguyện hợp nhất việc giảng dạy với ý Chúa không chỉ vì sứ mạng của chúng ta mà sau cùng còn vì ơn cứu độ của các em (và của chúng ta nữa!). Đưa ra những con đường hướng tới hành động nội tại Một trong những tình huống nghịch lý nội tại của việc giảng dạy đó là, mặc dù hầu hết các giáo viên đều có động lực giảng dạy, nhưng không phải mọi học sinh đều có động lực học tập. Số lớp học, dự án, kỳ thi... theo yêu cầu có khuynh hướng ít tạo nên động lực. Nếu bạn muốn làm cho điều gì trở nên ít được mong muốn hơn? Hãy biến nó thành một yêu cầu. Đừng hiểu sai ý tôi, tôi hiểu (và trân trọng) việc dạy những kỹ năng cần thiết để đạt được những kỹ năng cao hơn. Khi chơi bóng rổ, tôi không thích chạy nước rút, chạy cự ly dài hay nâng tạ như yêu cầu trước mùa giải. Tuy nhiên, tôi thích cách chúng biến tôi trở thành một cầu thủ bóng rổ giỏi hơn. Khi nói đến dạy giáo lý, yêu cầu rất cần thiết là dạy cho các em các câu kinh, mười điều răn và cách đọc Kinh thánh. Nhưng, thật không may, hầu hết các chương trình giáo lý chỉ dừng lại ở đó, và không tiếp tục đi vào khía cạnh biến đổi của huấn giáo. Lớp giáo lý chỉ đơn giản là một lớp học bắt buộc, nơi các em (yêu cầu phải tham dự) đọc các bản văn theo yêu cầu để đạt được các mục tiêu học thuật cần có. Nếu chúng ta muốn xây dựng các chương trình giáo lý hoàn chỉnh, hãy khôn ngoan khi tập trung vào những mong muốn của các em cũng như vào các giáo thuyết nền tảng cần thiết trong đức tin. Hãy nói chuyện với từng em một. Làm cho chúng trở thành môn đệ. Tìm hiểu điều gì đang bùng cháy trong tâm hồn chúng và giúp hướng dẫn các em đến điều mà Thiên Chúa mời gọi chúng trở thành. Một khi đã phân định được, chúng sẽ có động lực và không gì ngăn cản được chúng. Cho phép những em đã thêm sức mở ra con đường riêng Nếu giáo xứ của bạn giống của tôi, một khi một thanh thiếu niên nam hay nữ được thêm sức, họ hiếm khi tham dự vào bất cứ điều gì khác mà Giáo hội đề nghị. Trong thực tế, đôi khi họ còn trốn tránh hoàn toàn và cùng nhau bỏ đạo. Điều này không thể xảy ra được. Nó giống như một người lính hoàn thành khóa huấn luyện chỉ để rời khỏi quân ngũ trước khi bước vào cuộc chiến mà anh ta được huấn luyện. Cần có một chương trình hậu-Thêm sức, tập trung vào những khả năng của người vừa lãnh bí tích này để giúp phục vụ cộng đoàn mà họ đang sống. Chương trình này nên dựa trên 14 mối thương người, và cho phép những thành viên trẻ này của Giáo hội gặt hái những ơn ích thiêng liêng để sống đức ái hoàn hảo. Cứ cho là vậy, nhưng chúng ta hiện có các chương trình ở hầu hết các giáo xứ mà những người mới thêm sức có thể tham gia – như đọc sách trong Thánh lễ, thừa tác viên ngoại thường của Bí tích Thánh Thể, người hướng dẫn, ca viên, phục vụ phòng thánh, giúp lễ, giới trẻ, giúp nhà trẻ, v.v.. Nhưng có thể có nhiều hơn nữa. Không phải bạn trẻ nào cũng bị thu hút bởi những việc đó. Một số được lôi cuốn vào công việc truyền giáo, số khác vào lối sống một mình. Trong khi đó, có người được lôi cuốn vào lối sống chiêm niệm và nghiên cứu chuyên sâu hơn về đức tin. Thậm chí có một số bạn trẻ táo bạo tham gia vào việc phát triển quỹ hỗ trợ! Chúng ta cần vượt ra khỏi các cơ hội phục vụ “thông thường” nơi giáo xứ và để cho những người mới thêm sức cho chúng ta biết họ muốn làm gì với tất cả những gì mà Thiên Chúa đã ban. Rất hy vọng rằng bí tích Thêm sức sẽ không còn được xem như ngày “tốt nghiệp” lớp giáo lý, mà là bước đầu để đi vào thế giới thực nơi “lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” (Mt 9,37). Như bạn có thể thấy, còn rất nhiều việc phải làm trên mặt trận giáo lý. Nếu bạn là một giáo lý viên, hoặc nếu bạn biết ai đó là giáo lý viên, hãy đưa năm đề xuất này đến Trưởng Ban Giáo lý và quyết định cách bạn có thể đem hệ thống hiện tại của mình tích hợp với năm đề xuất này để tạo ra một chương trình mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Tác giả: T.J. Burdick là tác giả của một số cuốn sách và bài báo về đức tin Công giáo. Anh viết và thuyết trình về cách lớn lên trong sự thánh thiện giữa những phiền nhiễu và khó khăn của thời đại hiện nay. Bên cạnh việc dành thời gian cho gia đình hoặc viết sách, bạn có thể thấy anh ấy dạy các khóa về đức tin Công giáo thông qua chương trình Signum Dei (signumdei.com). Để biết thêm về T.J., hãy truy cập trang web của anh tại tjburdick.com.   Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ Catholicexchange.com (16/6/2022)  

Ta yêu mến Thiên Chúa vì Ngài đã ban tình yêu của Ngài cho chúng ta

1136   2023-03-14 10:46:32 TA YÊU MẾN THIÊN CHÚA VÌ NGÀI ĐÃ BAN TÌNH YÊU CỦA NGÀI CHO CHÚNG TA Linh mục Phêrô Trần Mạnh Hùng Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5) Trong những năm tháng gần đây, tôi thường xuyên tự chất vất và đặt câu hỏi cho chính mình. Tại sao tôi có thể yêu mến Thiên Chúa, là Đấng vô hình, bằng với tất cả sức mạnh tình yêu của trái tim tôi, và tình yêu ấy quá ư mãnh liệt và rất hiện thực, như thể tôi đang yêu một con người bằng xương, bằng thịt. Điều này đã xảy ra vì chính Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào tâm hồn tôi qua Thánh Thần của Người là ngôi Ba Thiên Chúa, đây là một hồng ân cao cả mà tôi tin là chính Chúa đã ban cho tôi. Tại sao tôi lại có thể cảm nghiệm một cách sống động tình yêu của Thiên Chúa dành cho tôi qua suốt bao nhiêu năm tháng, có thể nói từ khi tôi có trí khôn và khám phá ra được điều này trong chính tâm hồn đơn sơ và nhỏ bé từ thuở còn thơ ấu. Và rồi theo giòng thời gian khi tôi lớn lên, có đầy đủ trí khôn và nhất là khi tôi đã đến tuổi trưởng thành, cho đến khi tôi khám phá ra lời mời gọi của Chúa muốn tôi dấn thân bước theo Ngài với tư cách là người môn đệ, khi ấy tôi ở tuổi 19. Một cái tuổi mộng mơ và bắt đầu biết thương, biết nhớ đến các hình bóng của những cô thiếu nữ. Tôi cũng đã thầm yêu, nhớ trộm và ao ước mình có được một người bạn gái xinh đẹp và giỏi giang về nhiều lãnh vực, tài đức vẹn toàn. Nhưng rồi sau đó, tôi đã gạt bỏ các ý nghĩ ấy, sau khi tôi khám phá tiếng mời gọi của Chúa trổi lên rất mãnh liệt trong tâm hồn của tôi, đến độ tôi không tự miễn cưỡng lại, sự thôi thúc và lời mời gọi của Chúa mỗi ngày mỗi cấp bách và trào dâng trong tôi. Tôi khám phá ra thánh ý của Chúa, ngài muốn tôi đi tu làm linh mục và cống hiến cuộc đời của mình để phục vụ cho Giáo hội qua tha nhân. Quả thực đời sống tu trì và thánh hiến là một kinh nghiệm rất kỳ bí và huyền nhiệm đối với tôi…, mà đôi khi tôi cũng không thể nào lý giải được tất cả, như nhiều người đã thắc mắc và đã từng hỏi tôi trong nhiều giai đoạn, kể từ khi tôi quyết định đi tu cho đến khi tôi lãnh sứ vụ linh mục (ngày 16.07.1994) và cho cả đến ngày hôm nay. Ví dụ khi tôi còn là Chủng Sinh, đang học tại Học Viện Liên Dòng ở Melbourne, Tiểu bang Victoria, nước Úc. Họ hay hỏi tôi: “Tại sao Thầy lại muốn đi tu?” Câu hỏi xem ra rất bình thường và đơn giản, những để trả lời câu hỏi này, thực sự không có dễ tí nào. Vì ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Nó là một hồng ân do Chúa ban.[1] Chúng ta vẫn thường nghe câu nói: Chúa gọi thì nhiều, nhưng chọn thì ít. Và chỉ có ai được Chúa gọi và chọn thì may ra mới đi hết hành trình ơn gọi của chính mình, và may ra mới có thể trung thành đối với đời sống thánh hiến cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Trải qua gần 29 năm làm linh mục (1994-2023), và khoảng 44 năm đi tu, tôi dần dà khám phá ra điều này và tôi xác tín một điều: “Không có ân sủng của Chúa, chúng ta, những ai sống đời sống thánh hiến, sẽ không thể nào đi hết hành trình của chính mình, nếu như Chúa không ban ơn và nâng đỡ chúng ta.” Cho nên đối với tôi: “TẤT CẢ ĐỀU LÀ HỒNG ÂN CỦA CHÚA” và tôi luôn xác tín điều này: “Chúa đã làm tất cả mọi sự trong cuộc đời của tôi.” Nhiều lần và nhiều đêm tôi đã cầu nguyện với Chúa và tôi thân thưa với Ngài: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa đến dường nào, dù con là một con người tội lỗi và yếu hèn. Nhưng Chúa biết tấm lòng của con và tình yêu mà con đang có dành cho Chúa. Con không thể lừa dối với Chúa, vì Chúa thấu biết tất cả mọi sự, ngay chính khi con chưa thốt lên lời thì Ngài đã thấu hiểu được tâm tư và những suy nghĩ của con. Như chính Thánh Vịnh 139:1-6 đã ghi rõ: ÐỨC CHÚA ở khắp mọi nơi biết hết mọi sự “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết. Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con. Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm, quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!” Thực vậy, người đời có thể dùng đầu môi chót lưỡi và những lời nói văn hoa bóng bẩy để tán thưởng nhau, để tâng bốc nhau hầu mưu cầu lợi lộc cho chính mình. Họ cũng có thể dùng những lời nói ngon ngọt để tán tỉnh ve vãn hầu làm xiêu lòng người nghe để đạt được những gì mà họ mong muốn …! Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa là Đấng siêu phàm và là Đấng thượng trí vô biên, thì Ngài có thấu hiểu hết mọi sự, ngay cả những âm mưu tính toán của con người. Bởi lẽ đó mà mỗi khi tôi đến với Chúa, tôi luôn ý thức và hiểu được rằng: Ngài biết tất cả mọi sự và không có điều gì mà tôi có thể giấu giếm[2] hay che đậy đối với Ngài, cho nên, điều tốt nhất là tôi nên thành thực và nên có tấm lòng chân thành và đơn sơ, mỗi khi tôi hiện diện trước thiên nhan Chúa. Tôi nên thành thật chia sẻ với Ngài về những khó khăn, những trăn trở và những giấc mơ và hoài bảo của chính tôi. Tôi cũng nên tâm sự với Ngài về những gì mà tôi vẫn còn khiếm khuyết và cần sự đỡ nâng từ nơi Ngài để tôi có thể vượt qua và lướt thắng, nhất là về những việc làm sai trái hay những lỗi lầm mà tôi thường xuyên vấp phải, kể cả những gì mà tôi cho rằng, đó là điều sâu kín nhất trong tâm hồn của tôi, mà tôi chỉ có thể chia sẻ cách chân tình đối với Thiên Chúa, vì tôi tin rằng: Ngài hiểu được nỗi lòng của tôi và những uẩn khúc bên trong. Cuộc sống và hành trình của con người đâu phải lúc nào cũng thuận buồm, xuôi gió và con đường mỗi người chúng ta sẽ trải qua đâu phải lúc nào hoàn toàn cũng là đường trải nhưạ, không có sỏi đá…, và không có những khúc ghập ghềnh hay cong co. Tôi thiết nghĩ về điểm này thì ai trong chúng ta cũng đều công nhận và ít nhiều cũng đã có các trải nghiệm cá nhân. Mỗi lần tôi có dịp được lắng nghe các nam nữ ca sĩ (đặc biệt là nam ca sĩ Elvis Phương trình bày)[3] hay các bạn thân của tôi hát bài: CHÚA KHÔNG LẦM do Linh mục nhạc sĩ Kim Long sáng tác. Chúa không lầm, khi Ngài dựng nên conDù lời Ngài con không giữ trọnVì Chúa đã biết từ ngàn xưaRằng thân con bởi tro bụiVà được cưu mang trong tội lỗiĐK: Nhưng lòng Chúa quá bao laDù cho bao phen con yếu đuốiThành tâm xin ăn năn thống hốiLà Ngài lại thứ thaChúa không lầm, khi Ngài đành hy sinhĐể rồi nhìn con không đáp tìnhVì Chúa đã biết từ ngàn xưaCòn mang thân thể nặng nềLà còn luôn mê mãi trần thế Chúa không lầm, khi Ngài gọi con theoDù đời dạt trôi như cánh bèoVì Chúa đã biết từ ngàn xưaMột khi hơi thở chưa tànLà đời chưa qua khỏi sầu oánChúa không lầm, khi Ngài dìu con lênDù rằng đời con bao thấp hènVì Chúa đã biết từ ngàn xưaNhiều khi con chẳng trung thànhLà vì con đâu phải thần thánhChúa không lầm, khi Ngài dạy con yêuDù đường tình con oan trái nhiềuVì Chúa đã biết từ ngàn xưaTừng giây rung cảm trong lòngLà từng giây hơi thở rực nóng ĐK: Nhưng lòng Chúa quá bao laDù cho bao phen con yếu đuốiThành tâm xin ăn năn thống hốiLà Ngài lại thứ tha Đối với tôi thì tâm tình và lời của bài hát: Chúa không lầm do nhạc sĩ linh mục Kim Long đã sáng tác, tôi tin, đó là một cảm nghiệm độc đáo của nhạc sĩ Kim Long và cũng chính là vị linh mục đàn anh khả kính mà tôi ngưỡng mộ từ lâu, dù tôi và ngài chưa một lần gặp gỡ, tuy nhiên, tôi được các cha bạn nói về ngài rất nhiều. Tôi thiết nghĩ đây cũng là điều mà hầu như mỗi anh em linh mục chúng tôi, kể cả những ai sống đời sống dâng hiến, đều có thể đồng cảm và xác nhận rằng: nó là trải nghiệm rất thật, rất gần gũi với cuộc đời tận hiến. Tôi xin mượn lời bài hát của cha Kim Long để khép lại bài viết ở đây, vì tôi rất tâm đắc với những gì mà cha Kim Long đã viết, và đó cũng là cảm nghiệm của chính tôi. Chúa không lầm, khi Ngài gọi con theoDù đời dạt trôi như cánh bèoVì Chúa đã biết từ ngàn xưaMột khi hơi thở chưa tànLà đời chưa qua khỏi sầu oánChúa không lầm, khi Ngài dìu con lênDù rằng đời con bao thấp hènVì Chúa đã biết từ ngàn xưaNhiều khi con chẳng trung thànhLà vì con đâu phải thần thánhChúa không lầm, khi Ngài dạy con yêuDù đường tình con oan trái nhiềuVì Chúa đã biết từ ngàn xưaTừng giây rung cảm trong lòngLà từng giây hơi thở rực nóng ĐK: Nhưng lòng Chúa quá bao laDù cho bao phen con yếu đuốiThành tâm xin ăn năn thống hốiLà Ngài lại thứ tha  Tâm tình của bài viết được dựa trên bài đọc 2 của Thánh Phaolô gởi cho tín hữu thành Roma (5:1-8), trong thánh lễ Chúa nhật tuần thứ III Mùa Chay (ngày 12 tháng 3 năm 2023).   [1] . Ơn gọi ở đây bao gồm ơn gọi làm linh mục hay trở thành nam nữ tu sĩ. [2] . Giấu là động từ, chỉ một hành động cũng như cử chỉ. Ví dụ: Cất giấu, Chôn giấu, Giấu khuyết điểm, Giấu dốt. Về ý nghĩa của nó là bạn muốn cất một món đồ không không cho ai biết thì đó là từ giấu. GIẤU GIẾM là từ đúng. Trong đó GIẤU là Nôm 丑, và giải thích GIẤU GIẾM là: ém đi, không cho ai thấy biết. Vậy là GIẾM chứ ko phải DIẾM. Xem https://vndoc.com/giau-giem-hay-dau-diem-la-dung-chinh-ta-235302 (Truy cậy ngày 13/03/2023). [3] . Xem Video do ca sĩ Elvis Phương trình bày: https://www.youtube.com/watch?v=WFSJ4kWvNo4  

Công cuộc truyền giáo của Đức Giám mục Bá Đa Lộc

1004   2023-03-20 06:41:48 CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CỦA ĐỨC GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC Joseph Tân Nguyễn, OFM Những ai đã sống ở Nha Trang hoặc đã có lần ghé qua miền thùy dương cát trắng này, chắc cũng có dịp đi hưởng gió trên bãi biển thơ mộng chạy dài từ Cầu Đá, Cửa Bé cho đến khu Xóm Bóng. Đối với tôi, bãi biển Nha Trang đã ôm ấp bao kỷ niệm vô tư pha lẫn nghịch ngợm của tuổi học trò. Có nhiều lối đi ra biển, nhưng con đường Bá Đa Lộc chạy từ Ngã Sáu Nhà thờ Núi ngang qua Quân Y Viện, Trường Võ Tánh, Trường Tây, dọc bên hông Tòa Giám mục, là lối quen thuộc nhất. Suốt bảy năm trường, bất kể nắng mưa, con đường này với hàng cây xanh um che phủ hai bên, ngày ngày đã đưa tôi đến trường. Dưới bóng mát của các cây cổ thụ có những quán chè, xe gỏi bò khô, thu hút ít nhiều đám học trò thích tụ tập tán gẫu. Con đường thì quá quen thuộc, nhưng về thân thế và sự nghiệp về Bá Đa Lộc thì tôi mù tịt. Khi còn học ở Võ Tánh tôi chọn Ban “B” nên ít chú ý đến lịch sử, chỉ biết một cách mơ hồ rằng Bá Đa Lộc là một vị giám mục người Pháp giúp chúa Nguyễn Ánh lập nên triều đại nhà Nguyễn. Mãi đến khi có dịp học giáo sử và nhận ra cái tên Bá Đa Lộc quen thuộc ngày nào, thì tôi mới biết đến đóng góp của vị giáo sĩ này vào công cuộc truyền giáo ở Việt Nam. Lịch sử Á Đông vào cuối thế kỷ 18 đã ghi lại những trang sử hào hùng của các giáo sĩ dám “ăn to nói lớn”, và trong đó có Đức Giám mục Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau De Behaine), người đã hoạt động tích cực trong cánh đồng truyền giáo Việt Nam hơn 30 năm và cuối cùng đã chết trên đường theo đuổi lý tưởng phục vụ. Cái tên Bá Đa Lộc ít khi được đề cập đến như Alexander De Rhodes hoặc Matteo Ricci. Nhiều sử gia chỉ nhìn cái tên Bá Đa Lộc qua lăng kính “thực dân”. Nhưng nếu nhìn vào thực tế quân sự và chính trị của Việt Nam ở thế kỷ 18, Bá Đa Lộc đã có công rất nhiều trong việc giúp Nguyễn Ánh đánh dẹp nhà Tây Sơn để rồi lập nên triều đại nhà Nguyễn. Đó là chưa kể đến tài lãnh đạo của Bá Đa Lộc, biết nhìn xa nhưng vẫn tin mạnh mẽ vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của vị giáo sĩ này qua ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị (1767-1784), giai đoạn thuyết phục (1785-1789), và giai đoạn hành động (1789-1799). Giai Đoạn Chuẩn Bị (1767-1784) Vào năm 1738, Đức Giáo hoàng Clement XII giao cánh đồng truyền giáo miền bắc thuộc Vua Lê cho Dòng Tên và miền nam thuộc Chúa Nguyễn cho Hội Thừa Sai Pháp. Mặc dù đất đai của Chúa Nguyễn nhỏ bé, nhưng không ngăn cản nổi làn sóng giáo sĩ, thương gia, và cả những nhà mạo hiểm Âu Châu muốn tìm đất mới. Thật vậy, trên giấy tờ người Pháp đã có dự định xâm chiếm vùng đất này cả chục lần giữa năm 1720 và 1780. Nhưng vì khó khăn về tài chánh, chiến tranh triền miên, Cách Mạng Hoa Kỳ (1776), Cách Mạng Pháp (1789) cho nên Việt Nam còn được “để dành”, chưa bị đụng đến bằng vũ lực. Trong giai đoạn này, Cha Bá Đa Lộc, khi đó 25 tuổi vừa mới chịu chức, được gởi đến hoạt động tại một chủng viện ở Thái Lan (1766). Cha Bá Đa Lộc vốn chăm chỉ, thông minh, nóng lòng muốn đem Lời Chúa đến dân ngoại, đã học tiếng Việt và chẳng bao lâu biết giảng trôi chảy bằng ngôn ngữ này. Đúng một năm sau, khi chủng viện này bị đốt trong cuộc nổi loạn, Cha Bá Đa Lộc được tổng trấn Hà Tiên là Mặc Thiên Tử cho tá túc trên một hòn đảo nhỏ. Ở đó Cha cho xây một chủng viện đơn sơ, khởi đầu bằng một nhà nguyện với mái tranh không có vách. Bá Đa Lộc được bổ nhiệm làm Bề trên và chăm sóc cho khoảng 40 chủng sinh. Cả thầy lẫn trò, ngày nghỉ phải đi lên rừng chặt củi về xây nhà, sau gần một năm mới hoàn tất, gọi là Chủng viện “Hòn Đất”. Đây cũng là lúc dân Cao Miên thường quấy phá đất Hà Tiên. Các chủng sinh thường bị bắt bớ, hăm dọa, và phải trốn chui. Chính Bá Đa Lộc cũng đã bị bắt nhốt vào lao bốn tháng. Theo lá thư đề năm 1768 trong chốn tù đày, với gông cùm mang trên cổ và hai chân, Cha Bá Đa Lộc đã không sờn chí, trái lại còn cầu xin Chúa cho được vinh phúc chết rũ tù! Cuối cùng, vào tháng 10 năm 1769, một nhóm giặc Miên nổi lên chiếm Chủng viện làm “tổng hành dinh”, giết tất cả các nữ tu và đệ tử, các thầy chạy trốn được. Để tiêu diệt đám giặc này Tổng trấn Mạc Thiên Tử ra lệnh đốt Chủng viện Hòn Đất. Một lần nữa không còn mái tranh nương tựa, chẳng một viên đá dựa đầu trên đất Việt, đám thầy trò Bá Đa Lộc lủi thủi ra đi trên các thuyền buồm đến Ấn Độ vào tháng 12. Ở đó chưa được đủ một năm thì Cha Bề trên Bá Đa Lộc (29 tuổi) được chọn làm Giám mục phó Địa phận Đàng Trong Việt Nam, với hiệu toà Adran. Khôn khéo và khiêm nhường, ngài chờ đến ba năm sau mới lãnh nhận chức giám mục. Trong khi chờ đợi, ngài theo bước chân của Alexander De Rhodes: soạn một cuốn tự điển Pháp-Việt và trở về Macao cho xuất bản cuốn Bổn Giáo Lý, nóng lòng chờ ngày trở lại cánh đồng Việt Nam. Khi Giám mục Bá Đa Lộc trở lại Hà Tiên (1775), lệnh cấm đạo ở miền nam đã được hủy bỏ, trong lúc đó sức mạnh nhà Tây Sơn đang tiến lên làm cho Chúa Nguyễn phải điêu đứng. Trong trận đánh năm 1777 quân Tây Sơn sát hại cả dòng họ Chúa Nguyễn, chỉ có người cháu là Nguyễn Ánh mới 16 tuổi chạy thoát được. Cơn hoạn nạn gia đình Chúa Nguyễn cũng là dịp may cho Bá Đa Lộc. Ngài giúp Nguyễn Ánh trốn thoát vào Vịnh Thái Lan. Và trong dịp ra tay cứu người làm phước này, Bá Đa Lộc, vốn là một giáo sĩ, một nhà giáo dục, một học giả, nay tìm thấy “ơn gọi” làm khải đạo cho Nguyễn Ánh, và đương nhiên trở thành một “chính trị gia” và một “quân sư” bất đắc dĩ. Trong 20 năm sắp tới, lịch sử sẽ chứng minh rằng trí thông minh và tài lãnh đạo của ngài đã đem lại nhiều thành công quan trọng. Nhưng thành công thường phải trải qua nhiều trở ngại gay go. Suốt bốn năm (1777-1781) Nguyễn Ánh bôn ba trong Vịnh Hà Tiên, gom góp một số binh sĩ Việt, Miên và chiếm lại được một vài tỉnh miền nam cùng với Sài Gòn để làm đất dung thân. Trong thời gian này, Bá Đa Lộc vẫn theo khuyên bảo, nhắn nhủ vị tướng quân trẻ này bớt hung dữ, chịu đựng kiên nhẫn và đối xử tử tế với hàng quan lại lớn tuổi. Cũng lúc đó, ngài còn giúp Nguyễn Ánh trong những quyết định về quân sự và nội bộ triều đình. Ước nguyện của Đá Ba Lộc là một ngày kia Nguyễn Ánh sẽ trở thành Constantinô thứ hai và Việt Nam trở nên một đế quốc Công Giáo. Nhưng thành công quân sự của Nguyễn Ánh không giữ được lâu. Năm 1782 nhà Tây Sơn đem thủy quân đánh chiếm lại Sài Gòn. Cả Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh phải bỏ chạy lần nữa, trốn vào Vịnh Thái Lan gần một năm. Sau khi quân Tây Sơn rút quân về, Nguyễn Ánh nóng lòng đem mười ngàn quân do vua Thái cung cấp trở lại tái chiếm Sài Gòn, nhưng cũng bị đánh vỡ tan tành. Lần này, Nguyễn Ánh bị rượt cho đến cùng, phải bỏ cả thủy đoàn mà chạy, chỉ đem theo được vài trăm tên lính hộ vệ. Lang thang đó đây, trong cơn đói rách, quân lính phải đào củ trên các hoang đảo mà ăn. Lúc này Nguyễn Ánh bắt đầu hoang mang, phân vân có nên cầu cứu sức mạnh Âu Tây để có thể đẩy ngược làn sóng vận mệnh của nhà Tây Sơn. Trong lúc đó thì vị Giám mục, vì đã tính kỹ trước, đang sống an toàn với các chủng sinh của ngài trên một hòn đảo cách Hà Tiên gần 200 cây số. Nguyễn Ánh thường đến tá túc và xin thực phẩm cho đám tân binh, và tỏ ra rất là cảm động trước lòng tốt của Bá Đa Lộc. Ngược lại vị Giám mục đã chinh phục được lòng tin cậy của Nguyễn Ánh và từ đó, vị chúa trẻ tuổi đã giao cho ngài đứa con độc nhất, tức Hoàng tử Cảnh mới lên sáu, để được dạy dỗ chăm sóc. Một số quần thần cùng chịu Phép Rửa và trở lại đạo, phần Nguyễn Ánh tuy vẫn dự lễ và nghe Bá Đa Lộc giảng bằng tiếng Việt, nhưng vẫn chưa muốn chịu Phép Rửa. Nguyễn Ánh còn lưỡng lự không muốn ra mặt nhờ Pháp giúp đánh lại nhà Tây Sơn. Ông muốn tránh cảnh “cõng rắn cắn gà nhà” của Vua Lê. Hơn nữa, ông ta vẫn còn nhớ những thủ đoạn của thực dân Pháp muốn chiếm lấy Việt Nam làm thuộc địa thương mại như trong các biến cố năm 1768 và 1778. Giữa năm 1777-1784, khi Sài Gòn đổi chủ bảy lần, chính Nguyễn Ánh định nhờ đến sự giúp đỡ của Anh, Đức, Bồ Đào Nha và cả Tây Ban Nha. Nhưng chính vì tấm lòng tận tình giúp đỡ của Bá Đa Lộc trong những “lúc lên voi xuống chó” mà Nguyễn Ánh cuối cùng đã đề nghị vị Giám mục đại diện mình để đi thương lượng với chính quyền Pháp. Kết quả là vào mùa xuân 1785, Bá Đa Lộc qua đến Pondichery (Ấn Độ). Trong chuyến đi này, ngài mang theo hai bảo vật nói lên lòng tin cẩn cực kỳ của Nguyễn Ánh: bảo ấn của Chúa Nguyễn và Hoàng tử Cảnh, đứa con độc nhất của Nhà Vua. Bá Đa Lộc đã khắc phục được lòng tin của Chúa Nguyễn, nhưng liệu ngài có thuyết phục được nhóm lãnh đạo quân sự của Pháp ở Ấn Độ hay không? Tất cả sẽ lệ thuộc vào tài năng chính trị của Bá Đa Lộc. Giai Đoạn Thuyết Phục (1785-1789) Kể từ đây, Bá Đa Lộc bước vào một giai đoạn mới, đóng vai “sứ giả của Chúa Nguyễn để thương lượng với triều đình Pháp. Với một lòng hăng say muốn rao giảng Phúc Âm và mở mang Nước Chúa, Bá Đa Lộc coi đây như là một dịp may để Nước Chúa được mở mang. Một khi nhà Nguyễn tái thiết ngôi vị, Việt Nam sẽ được tự do theo Đạo Công Giáo, và Pháp cũng sẽ được tự do buôn bán tại các cửa biển Việt Nam. Nhưng khi đến gặp đại diện Pháp ở Pondichery, những đề nghị này bị bác bỏ ngay. Sau bốn tháng Bá Đa Lộc tranh đấu quyết liệt, đưa ra đủ lý luận để thuyết phục các tướng lãnh Pháp nhưng đã không đem lại kết quả nào, ngài thất vọng, đi đến tận Paris để điều đình với hoàng gia Pháp. Thiếu may mắn ở Pondichery nhưng Bá Đa Lộc đã gặt hái được nhiều kết quả bất ngờ tại Paris. Trước điện Versailles, Bá Đa Lộc dùng sự hiểu biết về tình thế chính trị, địa dư và quân sự ở Á Đông, cùng với tài hùng biện của mình để thuyết phục triều đình và đám công thần Pháp. Các bà hoàng Pháp bắt đầu cảm mến tài thuyết giảng của ngài và nhất là cậu hoàng tử “dễ thương” bên cạnh để làm chứng. Với giới quân sự, Bá Đa Lộc tuyên bố rằng Pháp sẽ được tự do ra vào các cửa biển, và Việt Nam sẽ cung cấp lính tráng nếu Pháp phải lâm vào chiến tranh với các thuộc địa khác. Trước mắt các nhà thương gia, Bá Đa Lộc đề nghị rằng nếu nắm được vùng biển Đông, Pháp sẽ kiểm soát tàu bè thương mại Anh từ Ấn Độ qua Trung Hoa, và sẽ chận đứng những nguồn lợi tài chánh mà đã giúp thủy quân Anh bành trước mạnh mẽ khắp nơi. Một số công thần thủ cựu phản đối đề nghị của Bá Đa Lộc, nhưng cũng có một số khác với óc mạo hiểm muốn hợp tác. Cuối cùng Bá tước Montmoria, một trong phái thủ cựu, được trao bổn phận soạn thảo bản Nghị Ước mà Vua Louis XI sẽ đóng ấn. Theo Nghị Ước Versailles này (1787) Pháp sẽ cung cấp 1650 thủy quân cùng với một số tàu bè, súng đại bác, súng tay, v.v. Ngược lại, sau khi lập xong cơ nghiệp Chúa Nguyễn phải nhường lại cho Pháp một số quần đảo trong vùng biển Đông, cho Pháp được độc quyền tự do buôn bán ra vào các cửa biển, cung cấp lính tráng trong trường hợp Pháp cần, và mỗi năm phải đóng một tàu thủy quân để hoàn lại các tàu mà hoàng gia Pháp đã “cho mượn”. Một thiếu sót lớn lao trong Nghị Ước Versailles (1787) là sự tự do giảng đạo cho các giáo sĩ Pháp ở Việt Nam! Nhưng đây không phải là điều quan trọng đối với triều đình Pháp. Montmorin kèm theo một thư tay ra lệnh cho thống đốc Pháp ở Pondichery thi hành theo Nghị Ước đã ký kết. Nhưng vì còn nghi ngờ tài năng của Bá Đa Lộc, trước khi đóng thư Montmorin còn viết rằng: “Hoàng đế Pháp đặt hết tin tưởng vào sự phán đoán của ông trong việc này, nhưng ta yêu cầu ông đừng báo cho Bá Đa Lộc biết ý riêng này!” Thống đốc ở Pondichery vốn là người đã bác bỏ đề nghị của Bá Đa Lộc trước khi ngài qua đến Paris. Thế là chỉ trong vòng bốn ngày sau khi ký kết, Nghị Ước Versailles trở thành vô giá trị! Vẫn chưa biết những ác ý này, vị Giám mục vội vàng cầm Nghị Ước “còn ướt mực” với lá thư tay của Montmorin đi Pondichery để lấy tàu bè, đạn dược, thực thi giấc mộng vàng. Nhưng khi đến nơi thì hỡi ôi! Sau khi đọc bản Nghị Ước Versailles và lá thư từ Montmorin, vị thống đốc chỉ trả lời Bá Đa Lộc bằng một sự tiêu cực lạnh lùng. Nóng giận, Bá Đa Lộc tranh đấu hết mình nhưng không đi đến đâu. Ngài khiếu nại về triều đình Pháp, nhưng mãi đến đầu năm 1789 mới nhận được một tin từ Paris là “chiến dịch này không thể thi hành được!” Trong đó còn có một lá thư hứa sẽ giúp Bá Đa Lộc phương tiện trở về Pháp một cách an toàn. Không ai còn nghi ngờ gì nữa ý định của triều đình Pháp không muốn dính líu gì đến Việt Nam lúc này. Biết chắc là mình đã bị “chơi xỏ” và chắc chắn không còn nhờ vào được ai nữa, vị giáo sĩ này quyết định làm một việc táo bạo chưa từng có trong lịch sử truyền giáo Á Đông. Ngài quyết định nắm mọi việc vào trong tay mình, như ngài đã có lần tuyên bố: “Ta sẽ làm cách mạng ở Đông Dương một mình ta!” Từ đây, sứ mệnh truyền giáo của Bá Đa Lộc sẽ được gắn kết với công trình thống nhất sơn hà của Chúa Nguyễn. Giai Đoạn Hành Động (1789-1799) Trước một thất bại đau đớn cho dù đã dự tính kỹ lưỡng và hết sức thuyết phục triều đình Pháp, Bá Đa Lộc đành phải ra tay một mình. Ngài vận động quyên tiền khắp nơi để mua tàu bè, đạn dược giúp cho Chúa Nguyễn. Thế là kể từ năm 1789 một số tàu bè hải quân trang bị súng ống, đạn dược đầy đủ, với nhiều binh sĩ “đào ngũ” từ quân đội Pháp, bắt đầu trên đường tiến về Việt Nam. Hai chiếc tàu thủy quân đầu tiên cập bến Sài Gòn vào ngày 19 tháng 7 năm 1789, bốn tuần trước Cách Mạng Pháp bùng nổ ở Paris. Đích thân Nguyễn Ánh ra bến tàu chào đón một cách trọng thể, với từng hồi súng can-non bắn vang dội để mừng đoàn thủy quân của Bá Đa Lộc. Ngoài một số giáo sĩ đi theo Bá Đa Lộc (8 linh mục) còn có các chuyên viên quân sự và cơ khí, thủy binh, bộ binh, tổng cộng trên 300 người. Các chuyên viên Pháp giúp trang bị lại các thuyền hải quân Chúa Nguyễn thành một thủy đoàn sẵn sàng tác chiến trên biển cả. Trên bờ họ cũng cho thiết lập những đồn lũy vững chắc tại Sài Gòn và những địa thế hiểm nghèo khác. Họ tổ chức bộ binh một cách chu đáo hơn, trang bị với một số súng đạn mới mua. Sử gia Pháp hay thổi phồng tầm quan trọng của người Pháp trong việc giúp Chúa Nguyễn thành công về mặt quân sự. Nhưng thật ra chính Nguyễn Ánh cũng đã rút tỉa nhiều kinh nghiệm chiến trường trong mười mấy năm qua và nhất là nhờ biết lợi dụng gió mùa để đóng buồm tiến đánh Tây Sơn. Nguyễn Ánh được lòng dân vì họ còn oán hận nhà Tây Sơn qua những nạn bắt đạo ráo riết. Lòng cảm mến Chúa Nguyễn được thể hiện qua bài ca dao: Lạy Trời cho chóng gió nồm Cho thuyền Chúa Nguyễn thuận buồm ra khơi. Sau nhiều năm giúp Nguyễn Ánh kéo buồm đi đánh Qui Nhơn (1790-1799) không thành công, Bá Đa Lộc bắt đầu nản chí, nghi ngờ có lẽ mình đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào vị vua trẻ này. Các lính đánh mướn đi theo Bá Đa Lộc sau năm đầu cũng từ từ đào ngũ gần hết, và hơn phân nửa số giáo sĩ Pháp đến cùng với ngài cũng đã qua đời vì không chịu nổi khí hậu miền nhiệt đới. Về phần Nguyễn Ánh sau mười mấy năm bôn ba đó đây thì khi nắm giữ được thế chân vững chắc ở Sài Gòn bắt đầu đam mê tửu sắc, chơi bời, bỏ rơi giấc mộng phục hồi đất nước. Nhiều lúc Bá Đa Lộc ngăn cản không được, nổi giận đòi trở về Pháp, thì chỉ lúc ấy Nguyễn Ánh mới thức tỉnh mà tiếp tục mong thôn tính Tây Sơn. Mãi đến cuối năm 1799, khi Qui Nhơn, bàn đạp của nhà Tây Sơn, bị sụp đổ và từ đó Chúa Nguyễn mới tiến đánh miền bắc một cách dễ dàng. Tuy nhiên sự thành công cuối cùng này đến quá trễ cho Bá Đa Lộc. Mặc dù mang trong người bệnh kiết lỵ trường kỳ, Bá Đa Lộc luôn tháp tùng Chúa Nguyễn trong các trận chiến. Nhưng lần này cơn bệnh thổ tả kéo dài liên miên, vị Giám mục chỉ còn da bọc xương và tắt thở lúc 10:00 sáng ngày 9-10-1799 tại Qui Nhơn. Ngài qua đời trước khi nhìn tận mắt ước nguyện ôm ấp trong 30 năm! Tin tức này được Nguyễn Ánh giữ kín không cho quân sĩ ở chiến trường biết. Trong lúc đó Hoàng tử Cảnh đã đưa xác vị Giám mục trên một chiếc thuyền hoàng gia về Sài gòn làm lễ An táng, đúng theo nghi thức Công giáo. Một khi Qui Nhơn bị thất thủ, ngày 2-11-1799 Nguyễn Ánh kéo quân cấp tốc về Sài Gòn làm lễ Truy điệu một cách hết sức trọng thể. Tất cả triều đình, giáo sĩ, binh sĩ, với đoàn ngựa đưa linh cữu của vị Giám mục khả kính về nơi an nghỉ cuối cùng. Ước lượng có khoảng 40 ngàn người tham dự và đám tang bắt đầu khởi hành từ 2 giờ đêm cho đến trưa hôm sau. Trước mộ chôn ở Gò Vấp, Nguyễn Ánh rơi lệ, đọc một bài điếu văn thống thiết và phong cho Giám mục Bá Đa Lộc làm Thái Tử Thái Phó Bị Nhu Quận Công. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa, ông ra lệnh xây một lăng để tưởng nhớ và căn dặn trông nom cẩn thận. Không đầy 3 năm sau khi Bá Đa lộc qua đời, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế, lấy danh hiệu Gia Long, dựng triều đại nhà Nguyễn, một triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam. Sau khi lên ngôi, Gia Long vẫn lưỡng lự không muốn thân với Pháp, nhưng vẫn còn nương tay để các giáo sĩ tự do giảng đạo. Nhà vua cũng không muốn liên hệ gì với người ngoại quốc. Điển hình trước khi chết, Gia Long đã chọn người con thứ là Minh Mạng (1833) có tiếng bài ngoại để nối ngôi. Cuối cùng chính sách bắt đạo và bế quan tỏa cảng của Việt Nam đã đưa đến những đụng độ quân sự với thực dân Pháp. Họ lấy lý do tôn giáo để áp lực chính trị, nhưng trong thâm tâm họ chỉ muốn chiếm lấy đất nước ta làm thuộc địa. Kết Đức Giám mục Bá Đa Lộc đã đóng góp rất lớn trong 30 năm truyền giáo tại Việt Nam. Ngoài những bổn phận được bề trên giao phó dạy dỗ chủng sinh, và xây cất Chủng viện Lái Thiêu, Bá Đa Lộc còn là một lãnh đạo tài ba, một chính trị gia chân chính, và là một quân sư khôn ngoan. Chính nhờ sự khôn ngoan đã tiếp nhận Nguyễn Ánh lúc 16 tuổi trên đường chạy trốn nhà Tây Sơn, và sau này tiếp tục đứng ra công khai ủng hộ và tranh đấu cho danh nghĩa nhà Nguyễn, mà đã không có lệnh cấm đạo trong suốt 18 năm Gia Long lên ngôi và 5 năm đầu dưới triều đại Minh Mạng. Theo Việt Nam Sử Lược, từ năm 1822 có rất nhiều cuộc nổi dậy trong Nam ngoài Bắc, nhà vua cho rằng có dân đạo theo giúp, do đó ra sắc lệnh bắt các tín đồ Công giáo phải bỏ đạo và ai bắt được giáo sĩ đem nộp để được thưởng. Mãi cho đến năm 1825, Minh Mạng mới ra dụ cấm đạo, và truyền cho quan quân phải khám xét các tàu thuyền của ngoại quốc ra vào cửa biển. Từ năm 1834 nạn bắt đạo trở nên khắc nghiệt hơn, nhiều giáo sĩ và giáo dân bị giết, trong đó có Cố Du (Joseph Marchand), nhưng các giáo sĩ phương Tây vẫn liều chết hoặc đào hầm ở dưới đất để truyền đạo. Năm 1838, Minh Mạng cảm thấy không thể nào cấm được các giáo sĩ truyền đạo trong nước, bèn sai sứ sang Pháp để điều đình về việc này. Song khi sứ thần Đại Nam tới nơi, Hội Thừa sai Paris xin vua Louis Philippe I đừng tiếp. Sứ Đại Nam phải trở về, khi về đến Huế thì Minh Mạng đã qua đời. Nhờ hơn hai thập niên bình yên (1802-1825) mà Giáo Hội Việt Nam đã có cơ hội củng cố và lấy lại sức mạnh để đương đầu với những cuộc cấm đạo đẫm máu dưới triều đại vua Tự Đức sau đó, nếu không thì khó mà biết tương lai Giáo Hội trẻ trung Việt Nam sẽ đi về đâu. Ý nguyện thầm kín của Bá Đa Lộc là đất nước Việt có một vị vua Công Giáo. Nhưng định mệnh đã an bài: giấc mộng “vàng” chưa thành thì Bá Đa Lộc đã qua đời, và Hoàng tử Cảnh cũng đã chết trước cha mình gần 20 năm. Đức Giám mục Bá Đa Lộc luôn tìm mọi cách để đạt cho được ý nguyện mở mang nước Chúa, dù cho đã phải dùng đến những phương tiện quân sự và chính trị. Vấn đề đặt ra đây là có nên dùng phương tiện quân sự và chính trị để đạt mục đích truyền giáo không? Nếu vị Giám mục này tiếp tục sống sau khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, không biết tương quan giữa ngài và Hoàng đế Gia Long sẽ ra sao? Tôn giáo và chính quyền có thể hỗ trợ lẫn nhau để giúp cho xã hội và con người được thăng tiến toàn diện. Nhưng nếu ranh giới giữa thần quyền và thế quyền không được rõ ràng thì rất dễ đưa đến sự lạm dụng và áp chế quyền lực giữa hai phạm vi này như lịch sử đã cho thấy. Tài liệu tham khảo Joseph Butringer, The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam (New York, 1967). Cadière & Cosserar, “Les FranÇais au service de Gia Long.VI, La maison de J.B. Chaigneau, consul de France à Hue.” Bul. Amis Hué, No.9, 1922. Minh Mạng, Bách Khoa Toàn Thư, xem (https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng)

Đàng Thánh giá với Đức Giám mục Barron

971   2023-03-23 12:24:25 ĐÀNG THÁNH GIÁ VỚI ĐỨC GIÁM MỤC BARRON Chuyển ngữ: Lm. Phêrô Bùi Đức Trịnh Tải bản văn tại đây CHẶNG THỨ I CHÚA GIÊSU CHỊU KẾT ÁN TỬ Khi mơ ước về một vị vua Đavít mới, dân Israel ao ước có được một vị vua sẽ thống nhất đất nước, thanh tẩy đền thờ, đánh bại kẻ thù, và sau đó sẽ trị vì toàn thế giới. Chỉ khi đi ngược lại với lối suy nghĩ này của dân Israel, chúng ta mới có thể cảm kích những gì Chúa Giêsu đang làm, cũng như cách nhận thức về chính Ngài. Những lời đầu tiên và cũng là trọng tâm lời rao giảng của Chúa Giêsu liên quan đến triều đại Nước Thiên Chúa. Ngài đã công bố một triều đại mới tập trung vào chính bản thân mình. Thật vậy, những điều này được xem như lời khiêu chiến, vì nếu một vương quốc mới xuất hiện, có nghĩa là vương quốc cũ phải nhường chỗ, và nếu một vị Vua mới đến, thì các vị vua cũ phải nhường bước. Chúa Giêsu đã nỗ lực thống nhất đất nước, đưa các chi tộc trở lại với nhau. Điều đó được thể hiện qua tương quan cởi mở của Ngài khi đồng bàn, tiếp xúc với những người tội lỗi và thu thuế, ôm vào mình những người bệnh tật và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Tại thành đô của Đavít, Chúa Giêsu đã thanh tẩy đền thờ và hứa sẽ thiết lập một đền thờ mới. Trong suốt cuộc đời và sứ vụ của mình, Chúa Giêsu đã phản đối các vị vua cũ. Chúng ta nhận thấy điều này ngay từ đầu trong những trình thuật về thời thơ ấu của Ngài. Chúa Giêsu được giới thiệu như là một nhân vật sẽ thay thế cho tổng trấn Quirinô và hoàng đế Augustô. Ngay cả khi còn là một hài nhi, sự xuất hiện của Ngài cũng đủ khiến vua Hêrôđê và toàn Giêrusalem phải run sợ. Sự đối đầu giữa hai trật tự cũ và mới này lên tới đỉnh điểm khi Chúa Giêsu đứng trước tổng trấn Phongxiô Philatô, đại diện địa phương cho hoàng đế Xêda. Chắc chắn về mặt quyền lực và thẩm quyền, Philatô dò xét người tội phạm đang đứng trước mặt mình: “Ông có phải là Vua dân Do Thái không?” Philatô hiểu điều này theo hướng thuần túy chính trị và thế gian “Có phải Ông đang cố gắng giành quyền kiểm soát chính trị đối với phần đất này của đế chế Rôma hay không?” Nhưng tình tiết này lại hàm chứa một sự châm biếm vì người Do Thái nào cũng biết toàn bộ dụng ý trong câu hỏi của Philatô. Thật ra Philatô đang có ý hỏi: “Ông có phải là vị vua trần gian không? Ông có phải là vua Đavít mới sẽ thống trị tất cả các quốc gia không?” Chúa Giêsu nói thẳng với Philatô rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Điều này không có nghĩa là Chúa Giêsu không quan tâm đến thực tại chính trị, với những mối bận tâm của “thế gian này” về công lý, hòa bình và trật tự đúng đắn. Điều đó có nghĩa là triều đại mà Chúa Giêsu đã loan báo không phải là một trật tự chính trị mới, giống như những trật tự khác dựa trên việc đe dọa và bạo lực. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu ngay lập tức giải thích rằng những thuộc hạ của Ngài không phải “chiến đấu để tôi khỏi bị trao nộp”. Đó là triều đại Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã công bố, Thiên Chúa nhân ái và bất bạo động trong việc điều hành mọi sự. Không mấy bận tâm, Philatô hỏi lại, “chân lý là gì?” Và sau đó, ông kết án tử Chúa Giêsu. Philatô đã chơi trò chơi quyền lực chính trị điển hình trên thế giới, và nhìn bề ngoài thì ông đã thắng, như những kẻ tàn nhẫn và bạo lực vẫn hay làm như vậy. Nhưng qua thập giá và Phục sinh, Chúa Giêsu đã chiến thắng Philatô. Người đã vượt qua bạo lực của tội lỗi và nhận chìm nó trong sự tha thứ của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đánh bại kẻ thù của Israel. Vì thế, Ngài thiết lập thân thể của mình như một đền thờ mới – vì từ thân thể Ngài, máu và nước chảy ra. Ngài đã quy tụ mọi người lại nơi chính mình, như những gì người ta mong đợi nơi vị vua của nhà Đavít: “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Tóm lại, Chúa Giêsu là vị Vua mới mà người ta phải thần phục.   CHẶNG THỨ II CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ Tất cả chúng ta, những tội nhân, đều có khuynh hướng hướng xem vũ trụ xoay quanh cái tôi của mình, bao gồm những nhu cầu, dự phóng, kế hoạch, và kể cả những gì chúng ta thích và không thích. Sự hoán cải đích thực mà Chúa Giêsu nói đến hơn cả một cuộc cải cách về luân lý, mặc dù nó cũng bao gồm cả điều đó nữa. Nó phải là một sự thay đổi nhận thức toàn diện, một cách nhìn mới về đời sống của một con người. Chúa Giêsu chắc hẳn đã đưa ra một lời dạy khiến cho thính giả vào thế kỷ thứ nhất phải đau lòng: “ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập tự giá mình hằng ngày mà theo tôi”. Những thính giả của Ngài biết thập giá có nghĩa gì: đó là một cái chết trong đau đớn tột cùng, trần trụi và nhục nhã. Họ biết tất cả uy lực khủng khiếp của nó. Vậy tại sao Chúa Con lại vác thập giá? Bởi vì Chúa Cha giận dữ? Bởi vì Ngài muốn thập giá thống trị chúng ta? Vì Thiên Chúa cần điều gì đó? Không, Ngài đến đơn thuần chỉ vì tình yêu, ước muốn của Thiên Chúa là làm cho con người được triển nở: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Chúa Cha không phải là một vị thần đau khổ đáng thương mà danh dự đã bị bầm dập cần được phục hồi; đúng hơn, Thiên Chúa là người cha luôn cháy bỏng lòng thương xót đối với con cái mình đang lạc bước trong hiểm nguy. Chúa Cha có ghét tội nhân không? Thưa không, nhưng Ngài ghét tội. Ngài có phẫn nộ trước bất công không? Không, nhưng Ngài coi thường sự bất công. Và do đó, Thiên Chúa sai Con của mình - không phải để nhìn thấy Người Con đau khổ nhưng để làm cho mọi thứ trở nên đúng đắn. Thánh Anselmô, nhà thần học vĩ đại thời Trung cổ, thường bị đổ lỗi oan vì một thứ thần học về sự thỏa mãn đầy tàn nhẫn, đã trình bày rất rõ ràng về điểm này. Tội nhân chúng ta giống như những viên kim cương đã rơi vào chốn bùn nhơ; được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, chúng ta đã tự vấy bẩn bản thân mình bằng bạo lực và hận thù. Với khát vọng tái tạo vẻ đẹp cho thụ tạo, Thiên Chúa đã bước xuống chốn bùn nhơ tội lỗi và sự chết, mang viên kim cương ấy lên và đánh bóng lại nó. Tất nhiên, khi làm như vậy, Ngài cũng phải chịu bị vấy bẩn. Việc chìm sâu vào chốn bùn nhơ, tức sự liên đới của Thiên Chúa với những kẻ hư mất chính là “hy tế” mà Người Con thực hiện để làm đẹp lòng Chúa Cha. Đó là một hy tế biểu lộ lòng thương xót chứ không phải tức giận hay báo thù. Nếu Thiên Chúa là tình yêu quên mình, thậm chí yêu cho đến chết, thì chúng ta cũng phải yêu thương như vậy. Nếu Thiên Chúa sẵn lòng mở rộng trái tim của mình, thì chúng ta cũng phải sẵn sàng mở trái tim mình cho người khác. Tóm lại, thập giá phải trở thành chính cấu trúc đời sống Kitô hữu. Đây là cách thức chúng ta yêu thương. Lập trường này không có gì ngu xuẩn, yếu đuối hay mù quáng cả. Khi yêu điên cuồng, chúng ta không cố ý làm mờ mắt mình trước những thực tại luân lý - mà ngược lại. Như Dostoevsky đã nói, tình yêu không phải là một sự ủy mị mà là “một điều táo bạo và đáng sợ”. Đây là những gì Chúa Giêsu tỏ hiện trên khổ hình thập giá. Và đây cũng là điều mà chúng ta, những môn đệ theo Ngài, phải bắt chước. Vác thập giá không chỉ có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ, mà còn là sẵn sàng chịu đau khổ như Chúa Giêsu đã chịu, xóa bỏ bạo lực và hận thù bằng sự tha thứ và giao hoà của chúng ta.   CHẶNG THỨ III CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ NHẤT Dưới sức nặng của thập giá, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã ngã trên đường đến đồi Canvê. Cách đây vài năm, tôi đã có một bài giảng với chủ đề về sự định hướng nhân từ và quan phòng của Thiên Chúa trong vũ trụ. Tôi cảm thấy bài giảng đã truyền cảm hứng và bổ ích, sau đó, rất nhiều người khen tôi cũng xác nhận như vậy. Nhưng sau khi tất cả mọi người rời đi, một người đàn ông lớn tuổi đến gần và nhìn tôi cách thận trọng, ông nói: “Thưa cha, con đang có một vấn đề nhưng bài giảng của cha không giúp được gì cả.” Tôi đáp lại rằng: “Chà, ý ông là gì?” Ông có hai cô cháu gái, năm tuổi và bảy tuổi, đang đau đớn vì một căn bệnh nan y mà các bác sĩ hầu như không thể chữa và cũng chưa thể hiểu hết được. Tất cả những gì họ biết chắc chắn là cả hai cô bé sẽ chết và trước khi chết, chúng sẽ bị mù. Ông nói với tôi rằng, đứa lớn vừa bị mất thị giác còn đứa nhỏ tuổi hơn thì nằm thức trắng đêm khóc trong nỗi kinh hoàng khi nghĩ về tương lai của mình. Ông nói, “Thưa cha, thắc mắc của con là tại sao Chúa lại làm điều ấy với hai đứa cháu gái của con. Con đã đến gặp các linh mục, mục sư, các thầy Rabi và các thầy guru, nhưng con chưa bao giờ nhận được một câu trả lời nào thỏa đáng cả – và thành thật mà nói thì bài giảng của cha cũng chẳng làm cho vấn đề sáng tỏ thêm chút nào.” Thật sự, tôi cảm thấy kinh ngạc và choáng váng. Chưa bao giờ vấn đề về sự dữ - việc lý giải sự tốt lành của Thiên Chúa với sự hiện diện của đau khổ - lại đến với tôi một cách cụ thể và đầy thách thức như vậy. Tôi nói với ông ấy rằng tôi không có câu trả lời cụ thể cho vấn nạn của ông, nhưng chính câu hỏi của ông là một điều gì đó thánh thiện, bởi vì nó chứng tỏ là ông đã không từ bỏ Thiên Chúa. Ông vẫn đang tìm kiếm Người. Và nếu theo đuổi câu hỏi đó xuyên suốt cuộc đời, bạn sẽ được dẫn đến trung tâm của mầu nhiệm Kitô giáo, đó là Chúa Cha sai Con của Ngài đến tận cùng sự đau khổ của chúng ta, bước vào những gì khiến chúng ta sợ hãi nhất. Và ở đó, chúng ta tìm thấy câu trả lời - không phải một câu trả lời có thể thỏa mãn hoàn toàn tính tò mò của chúng ta, nhưng là một câu trả lời có sức mạnh sâu thẳm từ bên trong: rằng Thiên Chúa không lấy đi sự đau khổ của chúng ta, nhưng Ngài bước vào sự đau khổ ấy cùng với chúng ta và bằng cách ấy, Ngài thánh hoá nó.   CHẶNG THỨ IV CHÚA GIÊSU GẶP ĐỨC MẸ Cuộc khổ nạn của Đức Kitô (The Passion of the Christ) là một trong những bộ phim tôn giáo đáng suy gẫm và phổ biến nhất trong nhiều thập kỷ. Một điều đặc biệt gây đánh động tôi khi xem đó là vai diễn Đức Maria, mẹ Đức Giêsu. Ngay từ đầu Tin mừng, thánh Luca đã cho chúng ta thấy Đức Maria “hằng ghi nhớ những lời ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Mẹ là nhà thần học xuất sắc. Mẹ là đấng thấu hiểu. Nếu Mẹ Maria đã sinh ra Chúa Kitô và nếu Giáo hội thực sự là Nhiệm thể Chúa Kitô, thì theo một nghĩa rất thực, Mẹ phải là Mẹ Giáo hội. Mẹ là người mà qua đó Chúa Giêsu tiếp tục được sinh ra. Chúng ta nghe trong Tin mừng rằng, khi hấp hối trên thập giá, Chúa Giêsu đã nhìn Mẹ Maria và môn đệ Người yêu mến, và nói với Mẹ rằng: “Hỡi Bà, này là con Bà”, rồi nói với Gioan, “Này là Mẹ con”. Và “từ giờ đó, người môn đệ đã đưa Bà về nhà mình”. Bản văn này giúp củng cố cho một truyền thống cổ xưa cho rằng Tông đồ Gioan đã đưa Đức Maria sang Êphêsô ở vùng Tiểu Á, và các ngài đã sống những ngày cuối đời tại đây. Thật vậy, trên đỉnh một ngọn đồi cao nhìn ra Biển Aigaiô, ngay bên ngoài thành phố Êphêsô, có một ngôi nhà đơn sơ giản dị mà truyền thống cho rằng đó là nhà của Đức Mẹ. Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Thiên Chúa, được hồn xác về trời, không chỉ đơn thuần là một mối bận tâm về lịch sử hay lý thuyết, và cũng không đơn giản là một mẫu gương thiêng liêng. Thay vào đó, với tư cách là “Nữ Vương các Thánh”, Đức Maria vẫn đang tiếp tục hiện diện, là một tác nhân trong đời sống của Giáo hội. Khi trao Mẹ Maria cho Gioan, Chúa Giêsu thực sự đã trao Mẹ cho tất cả những ai sẽ là bạn hữu của Người qua mọi thời đại. Dĩ nhiên, điều này không làm lẫn lộn vai trò của Mẹ với Đấng Cứu Thế, nhưng là để nhấn mạnh sứ mệnh chuyển cầu của Mẹ. Ở đoạn cuối kinh “Kính mừng”, người Công giáo chúng ta cầu xin Mẹ Maria chuyển cầu cho mình “bây giờ và trong giờ lâm tử”, điều đó cho thấy rằng trong suốt cuộc đời mỗi người, Mẹ Maria là máng thông ơn mà qua đó ân sủng Chúa Kitô chảy vào Nhiệm Thể của Ngài. Sứ mệnh căn bản của Mẹ là luôn lôi kéo mọi người vào mối hiệp thông sâu sắc hơn với Con của Mẹ. Giáo hội xác tín rằng Đức Maria tiếp tục nói lời xin vâng với Thiên Chúa và “vội vã lên đường” trong các cuộc truyền giáo trên khắp thế giới, theo những cách âm thầm, kín đáo, đáp lại lời cầu nguyện và chuyển cầu cho Giáo hội. Nhưng đôi khi Mẹ cũng hành động đầy ấn tượng, can thiệp vào thế giới chúng ta cách độc đáo và rõ ràng. Thiên Chúa yêu thích mời gọi những người cộng tác khác tham dự vào kế hoạch quan phòng muôn màu của Ngài, ban cho họ vinh dự được cộng tác với Ngài và những kế hoạch của Ngài. Đức Trinh nữ Maria, người nữ tì của Chúa, là người khiêm tốn nhất trong số những khí cụ khiêm tốn này – và do đó, Mẹ là khí cụ hiệu quả nhất.   CHẶNG THỨ V ÔNG SIMON THÀNH XYRÊNÊ VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHO CHÚA GIÊSU Con lừa là một loài vật thồ hàng: một con vật khiêm tốn, giản dị được người dân sử dụng trong công việc. Những người giàu có và quyền lực có thể sở hữu ngựa hoặc bò; một nhà lãnh đạo chính trị có thể cưỡi trên một con chiến mã oai phong, nhưng ít người dùng đến lừa. Suốt thời gian hoạt động công khai, Chúa Giêsu không muốn người ta tuyên bố Ngài là Đấng Mêsia. Ngài nghiêm khắc ra lệnh cho họ phải im lặng. Khi họ đến tôn Ngài làm vua, thì Chúa Giêsu lẩn tránh. Nhưng vào Chúa nhật Lễ Lá, Chúa Giêsu lại muốn được công bố là vua - chính xác vào thời khắc khi Ngài cưỡi lừa vào thành Giêrusalem. Và Tin mừng nói rõ: đó là một con lừa con, mà trước đây chưa ai cưỡi. Nói cách khác, đây là một chú lừa non, thiếu kinh nghiệm, không mấy ấn tượng. Và đây là con vật mà Chúa Giêsu đã cưỡi để tiến vào thành trong sự khải hoàn. Con lừa khiêm tốn, được dùng để phục vụ, là hình mẫu cho tư cách người môn đệ. Mục đích sống của chúng ta không phải là thu hút sự chú ý vào bản thân mình, không phải là một sự nghiệp rực rỡ, cũng không phải nâng cao thêm cái tôi của mình; đúng hơn, mục đích của chúng ta là phục vụ nhu cầu của Ông Chủ, cộng tác vào công trình của Ngài theo ý Ngài muốn. Nhiệm vụ của con lừa là gì? Đó là mang Chúa Kitô. Nó đã để Chúa Kitô cưỡi vào thành Giêrusalem, dọn đường cho cuộc Khổ nạn và cứu chuộc thế giới. Có ai đặc biệt chú ý đến nó không? Có lẽ là không, ngoại trừ việc con vật cục mịch này có lẽ trở thành trò cười cho người ta. Nhiệm vụ của mỗi người môn đệ là gì? Cũng giống như vậy: đó là trở thành người mang Chúa Kitô đến với thế giới. Người ta có thể không để ý đến chúng ta? Chắc chắn rồi. Nếu được chú ý thì liệu chúng ta có bị cười nhạo? Dĩ nhiên rồi. Nhưng Ông Chủ cần chúng ta, và vì vậy chúng ta thi hành nhiệm vụ thiết yếu của mình trong chương trình (Theo-drama) của Thiên Chúa. Trong cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô, một nhân vật đã họa lại hình ảnh của con lừa, đó là Simon người Xyrênê. Người La Mã không muốn Chúa Giêsu chết trước khi bị đóng đinh. Vì vậy họ ép một người đàn ông từ Xyrênê, ở Bắc Phi, có lẽ là một du khách đến Giêrusalem vào dịp Lễ Vượt Qua phải vác thánh giá với Chúa. Thật là khó khăn và nguy hiểm cho ông! Nhưng ông lại nắm bắt thời điểm này và đã vác thập giá, chịu cùng những đau khổ của Chúa Giêsu. Simon người Xyrênê hẳn còn có nhiều dự định khác cho cuộc đời mình, nhiều ước mơ và hoài bão khác. Nhưng vào chính giây phút quyết định, khi Ông Chủ cần đến, ông đã đáp lời. Và câu chuyện của ông được kể lại cho đến ngày nay. Cuộc sống là những gì xảy ra với bạn trong khi bạn đang bận rộn lên những kế hoạch khác. Cuộc sống của bạn không phải là cho chính bạn. Hãy nhớ rằng: Ông Chủ cần bạn. Tất cả những gì bạn cần là đáp trả.   CHẶNG THỨ VI BÀ VÊRÔNICA LAU MẶT CHÚA Truyền thống kể rằng một người phụ nữ tên là Vêrônica đã lau máu và mồ hôi trên khuôn mặt Chúa Giêsu khi Ngài trên đường đến đồi Canvê; và thật kỳ diệu, Ngài đã in hình ảnh mình trên tấm khăn của bà. Chúng ta thấy gì nơi khuôn mặt của Đức Kitô? Chúng ta thấy Con Thiên Chúa, Ngôi Lời đã trở nên người phàm. Theo cách nói của thánh Phaolô, thì Thiên Chúa đã bày tỏ “sự hiểu biết vinh quang Thiên Chúa rạng ngời trên khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô”. Trong và thông qua nhân tính khiêm tốn của mình, thần tính của Chúa tỏa sáng. Sự gần gũi của thần tính và nhân tính không làm tổn hại sự toàn vẹn của nhân tính, trái lại còn chiếu tỏa hơn nữa vẻ đẹp của thần tính. Đây là phiên bản Tân ước của câu chuyện bụi cây bốc cháy. Chúa Giêsu, Đấng vừa có thần tính và nhân tính có sức thuyết phục con người khi truyền giáo. Nếu chỉ là Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu không chạm đến chúng ta; còn nếu chỉ là con người, thì Ngài không thể cứu chúng ta. Sự huy hoàng của Chúa Giêsu bao gồm sự phối hợp hai bản tính. Đây chính là Đức Kitô, Đấng muốn ngự trị như một Đức Chúa trong mọi trạng huống của toàn bộ đời sống chúng ta. Trên tấm khăn của bà Vêrônica, chúng ta nhìn thấy Chiên Thiên Chúa đau khổ, Đấng xóa tội trần gian. Đức Chúa của sự sống đã đến, và bị chúng ta giết chết. Do đó, tất cả chiêu trò để tự biện minh như che giấu, phủ nhận, che đậy, giả tạo, bào chữa, ngụy biện vĩnh viễn không còn nữa. Sự bất thường của chính chúng ta đang được phơi bày nơi mọi vết thương trên thân thể Chúa Giêsu. Khi chúng ta hướng mình về sự rực rỡ của Đức Kitô chịu đóng đinh, mọi vết ố trên khung cửa sổ trong tâm hồn trở nên thật rõ ràng. Trên khuôn mặt đau khổ của Đức Kitô đang chịu đau đớn, chúng ta biết rằng có điều gì đó thật khủng khiếp đã xảy ra với mình; rằng không ai ổn cả; rằng chúng ta giống như những tù nhân bị xích xiềng bên trong nhà tù không có cách nào để trốn thoát; rằng chúng ta đang chiến đấu với chính mình; rằng Pharaô đã bắt ép dân Israel làm kẻ nô lệ và phục vụ; rằng chúng ta đang bị phán xét; và tất cả những gì chúng ta có thể làm là kêu lên, “Lạy Đấng Emmanuel, xin hãy đến”. Nhưng trên tấm khăn của bà Vêrônica, chúng ta cũng nhìn thấy dung mạo của lòng thương xót. Khi chúng ta lạc vào vùng đất lạnh lẽo và xa xôi của tội lỗi, tình yêu Thiên Chúa đã đến tìm gặp chúng ta; khi chúng ta chìm dưới sóng biển, tình yêu ấy càng lặn sâu hơn; khi chúng ta khép bản thân mình trong hang tối của sự tự tôn và tự trách mình, thì tình yêu ấy đã thu mình lại và tiến vào hang tối ấy với một ngọn nến. Đây là lý do tại sao người Kitô hữu chúng ta không che giấu khuôn mặt kinh khủng của Đức Kitô đang hấp hối, nhưng muốn cho thế giới thấy khuôn mặt ấy. Nơi những đau khổ cùng cực của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đang cất đi sự thống khổ của chúng ta. Chúng ta biết rằng bản thân không còn sống cho chính mình nữa mà chính Đức Kitô sống trong chúng ta; chúng ta nhận ra rằng không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Giáo hội không có một sứ vụ; Giáo hội là sứ vụ, và mục đích của nó là cầu xin dung mạo thương xót của Chúa Giêsu nhìn đến hết mọi người trên thế giới.   CHẶNG THỨ VII CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ HAI Dưới sức nặng của cây thập giá, Chúa Giêsu đã ngã xuống đất lần thứ hai. Ngôn sứ Giêrêmia đã nói lên niềm khao khát và hy vọng mà chắc hẳn đã được in sâu vào tâm thức chung của dân tộc. Ông cho biết chính ĐỨC CHÚA cam kết rằng sẽ có một ngày chính Ngài sẽ hoàn thành giao ước và tha thứ tội lỗi của dân. Trong chương 31 của sách Giêrêmia, chúng ta thấy những lời lạ thường này: “Này sẽ đến những ngày –sấm ngôn của ĐỨC CHÚA – Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng … chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta …. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó … Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta”. Tất cả các ngôn sứ đều biết rằng các giao ước mà Thiên Chúa đã lập với Israel - thông qua Ápraham, Môsê và Đavít - đã thất bại, vì sự bất trung của dân. Nhưng Giêrêmia mơ về một ngày, qua sự can thiệp trực tiếp của ĐỨC CHÚA, một dân Israel tín trung sẽ xuất hiện, một dân tộc có tấm lòng dành cho Thiên Chúa và xem Lề Luật không phải là sự áp đặt bên ngoài mà là niềm vui. Việc canh tân này sẽ diễn ra như thế nào? Làm thế nào ĐỨC CHÚA khắc sâu Lề Luật nơi con cái Israel khiến họ dễ dàng thực thi giao ước? Để tìm câu trả lời, chúng ta phải lật lại một số bản văn bí ẩn trong sách ngôn sứ Isaia, những bản văn đặc biệt lôi cuốn những Kitô hữu đầu tiên. Chương 52 của sách ngôn sứ Isaia nhắc đến một nhân vật được gọi là “người tôi tớ của Thiên Chúa”, được miêu tả “sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng”. Các quốc gia trên địa cầu sẽ nhìn thấy Người trên địa vị nổi bật này, nhưng họ sẽ không nhìn thấy một trang chiến binh huy hoàng hay một người chiến thắng oai hùng. Thay vào đó, họ sẽ sửng sốt vì “mặt mày của Ngài tan nát chẳng ra người”. Chương 53 tiếp tục mô tả người tôi tớ này như sau: “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên”. Và rồi lý do cho sự biến dạng và đau khổ của Người trở nên rõ ràng hơn: “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta…. Người đã bị thương tích bầm dập vì những thù hận của chúng ta, đã bị đâm thâu vì chúng ta phạm tội, và Thiên Chúa đã đổ trên đầu Người tất cả tội lỗi của chúng ta”. Tóm lại, “Người tôi tớ đau khổ” được trình bày như một nhân vật hiến tế, một người sẽ thay mặt toàn thể dân tộc hiến thân vì tội lỗi của nhiều người. Sự cao cả của Người sẽ không bao gồm sự độc lập cá nhân hay quyền lực chính trị, mà là từ bên trong, sẵn sàng mang lấy gánh nặng và diệt trừ sức mạnh của tội. Nói tóm lại, giao ước mà Giêrêmia đã từng nói (Lề Luật ghi khắc trong tâm hồn của dân) sẽ được thực hiện nơi người tôi tớ đau khổ mà Isaia trình bày.   CHẶNG THỨ VIII CHÚA GIÊSU GẶP CÁC PHỤ NỮ THÀNH GIÊRUSALEM Khi Chúa Giêsu bị điệu lên đồi Canvê, có nhiều người đã đi theo, gồm cả những phụ nữ thành Giêrusalem đang khóc thương Ngài. Chúa Giêsu quay lại nhìn các bà, Ngài dùng những lời của vị thẩm phán đối với thế gian mà phán: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu”. Kinh thánh khẳng định Chúa Giêsu là vị thẩm phán chỉ cho chúng ta thấy mình là tội nhân, nhưng Ngài cũng là Đấng Cứu Độ ban cho chúng ta con đường thoát khỏi tội. Khi quên mất một trong hai điểm nhấn này, đường thiêng liêng của chúng ta sẽ bị tổn hại, bởi vì hoặc chúng ta sẽ quá tự mãn, hoặc chúng ta sẽ quá khiếp sợ. Khi cả hai đều được nhấn mạnh, thì đường thiêng liêng của chúng ta sẽ mở ra, vì chúng ta biết rằng mình phải bước đi và có thể bước đi. Nơi Đức Giêsu Nadarét, Lời Thiên Chúa đã trở thành xác phàm, nghĩa là cách thức Thiên Chúa hiện hữu đã xuất hiện trong thời gian và không gian. Thư gửi tín hữu Côlôsê nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu là “hình ảnh hoàn hảo”, là họa ảnh của Chúa Cha. Do đó, chính sự xuất hiện của Ngài là một thách đố cho những gì không phù hợp với cách thức của Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa, trật tự thần linh ở nơi Ngài, và do đó, sự hiện diện của Ngài là ánh sáng phơi bày tất cả những hỗn loạn của vương quốc trần gian. Theo nghĩa này, mọi hành động và lời nói của Chúa Giêsu đều cấu thành lời phán xét của Thiên Chúa đối với thế gian, vì cách Ngài phản đối những địch thủ đã làm lộ rõ bản chất rối loạn nơi họ. Gioan Tẩy Giả đã sử dụng một hình ảnh sắc sảo khi loan báo sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế: “Người cầm nia trong tay và rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12). Vào thế kỉ thứ nhất, người Palestine đem lúa mới thu hoạch vào sân kho, rồi dùng nia tung lúa lên để tách trấu ra khỏi lúa. Vì thế, sự hiện diện của Chúa Giêsu như là một tác nhân để phân tách và sàng lọc nhân loại. Sự phán xét của Thiên Chúa hiện rõ nơi cái chết đau đớn của Chúa Giêsu. Ngài bị giết theo lệnh của tổng trấn Rôma và dưới sự chấp thuận của thể chế tôn giáo. Thánh Phêrô đã đưa biến cố này vào lời công bố sớm nhất trong sách Công vụ Tông đồ: “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3,15). Dĩ nhiên, lời rao giảng của thánh Phêrô hàm ý những kẻ giết Đức Giêsu, những kẻ được Tin mừng nói đến như kẻ thù của sự sống. Và như thánh Phêrô biết rõ, những người “anh em” trong lời rao giảng của ngài không chỉ gồm các giai cấp thống trị của Rôma và Do Thái, mà còn là tất cả mọi người, kể cả những môn đệ thân thiết nhất của Chúa Giêsu. Các nhóm xã hội thời Chúa Giêsu, gồm những người Pharisêu, Sađốc, nhóm quá khích, phái Essenô, tư tế đền thờ, quân xâm lược Rôma và thậm chí các môn đệ Chúa Giêsu, có điểm chung là cuối cùng họ đều chống lại Ngài. Vào giây phút quyết định, “tất cả họ đều chạy trốn”. Bod Dylan nói rằng: “Kẻ thù trước mắt tôi đang ẩn mình trong tấm áo choàng của sự tử tế”. Mánh khóe tội nhân yêu thích là quấn mình trong lớp vỏ của người tử tế. Chúa Giêsu là vị thẩm phán đã xé bỏ tấm áo choàng ấy, “mạc khải” sự thật của mọi sự. Bất cứ khi nào chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng, với mình tất cả đều tốt đẹp, hãy giữ lấy thập giá của Chúa Giêsu và để cho ảo tưởng của mình chết đi.   CHẶNG THỨ IX CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ BA Tại sao Chúa Giêsu mang lấy sức nặng khủng khiếp của thập giá đến nỗi Ngài không chỉ ngã xuống đất một lần, hai lần mà đến ba lần? Bởi nếu chỉ nói đến sức nặng của tội lỗi từ xa, qua cảm nghiệm thần linh, thì sẽ không thực sự chiến thắng nó; nhưng khi có sự hoàn toàn tùng phục của một người, thì nó sẽ bị nổ tung từ bên trong, bị phá đổ, bị đánh bại một cách hiệu quả. Đây là đường lối của Chúa Giêsu, là Chiên Thiên Chúa. Chúng ta thấy điều đó trong một số tường thuật của Tin mừng, Chúa Giêsu kiệt sức sau khi gặp gỡ những người bệnh tật, những kẻ tội lỗi, hư mất. Ở phần đầu Tin mừng Máccô, chúng ta nghe kể về một ngày điển hình trong sứ vụ của Chúa Giêsu. Mọi người chen lấn tư bề, khiến Chúa phải lánh lên một chiếc thuyền để tránh bị đám đông xô đẩy, và có lúc, những người khẩn cầu ân huệ vây quanh đến nỗi Ngài không có cả thời gian để ăn uống. Thánh Máccô cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã đến một nơi hoang vắng để cầu nguyện, nhưng ngay cả ở đó, đám đông cũng tìm ra và tuôn đến với Ngài. Trong câu truyện tuyệt vời về người phụ nữ bên bờ giếng theo Tin mừng Gioan, chúng ta nghe thấy Đức Giêsu ngồi nghỉ ngơi bên bờ giếng Giacóp, vì “Người đi đường mệt mỏi”. Lời văn diễn tả những gì đã thực sự diễn ra: ai lại không mệt mỏi sau một buổi sáng đi bộ qua vùng đất khô cằn? Nhưng như thánh Augstinô và những vị khác đã nhắc chúng ta nhớ, ở đây còn có một ý nghĩa ẩn dụ khác. Chúa Giêsu mệt mỏi vì hành trình nhập thể vào thế giới tội lỗi và rối loạn của con người như được diễn tả qua hình ảnh giếng nước. Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: “Ai uống nước giếng này, sẽ lại khát”. Ngài cho chị thấy giếng là biểu tượng của ước muốn sai lầm, xu hướng muốn lấp đầy lòng khao khát Thiên Chúa bằng những thụ tạo chóng qua như tiền bạc, thú vui, quyền lực và danh dự. Để tạo nên một thay đổi nơi người phụ nữ, Chiên Thiên Chúa đã phải sẵn lòng bước vào thế giới hỗn loạn và chia sẻ sự mệt mỏi tinh thần của chị. Tác giả J. R. R. Tolkein đánh giá rất cao động lực hy sinh này của Chúa Giêsu. Ông diễn tả hình tượng Đức Kitô vĩ đại qua nhân vật Frodo người Hobit [nhân vật chính trong tiểu thuyết Chúa Tể Những Chiếc Nhẫn, đã cứu cả vùng Trung Địa khi tiến vào trung tâm và tước bỏ quyền lực sự chết khỏi vùng đất Mordor khủng khiếp đó bằng sự sẵn sàng và khiêm tốn mang lấy gánh nặng của nó. Tuy nhiên, tất cả những điều này chỉ báo trước hy tế cuối cùng của Chiên Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa và gia đình nhân loại của Ngài có thể một lần nữa dễ dàng gắn kết với nhau trong mối hiệp thông, thì kẻ thù cuối cùng bị đánh bại chính là cái chết. Theo một nghĩa rất thực tế, cái chết (và nỗi sợ hãi cái chết) đứng đằng sau tất cả tội lỗi, và do đó, Chúa Giêsu phải tiến vào vương quốc sự chết, và qua hy tế, Ngài biến nó thành sự sống. Vô số anh hùng trong dòng lịch sử nhân loại đã cố gắng chinh phục vương quốc đó bằng cách sử dụng vũ khí, chiến đấu với bạo lực bằng bạo lực, và chiến đấu với thù hận bằng thù hận. Nhưng chiến lược này đã (và vẫn đang) vô vọng. Kế hoạch chiến đấu của Chiên Thiên Chúa lại vô cùng nghịch lý: Ngài sẽ chiến thắng cái chết bằng chính cái chết.   CHẶNG THỨ X CHÚA GIÊSU BỊ LỘT ÁO Quân lính phân chia áo Chúa Giêsu thành bốn phần, mỗi người một phần, còn áo dài thì chúng bắt thăm, để ứng nghiệm lời Thánh vịnh: “Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài cũng bắt thăm luôn”. Chúa Giêsu bị tước bỏ mọi thứ: danh tiếng, sự thoải mái, quý trọng, thức ăn, nước uống – và thậm chí cả chiếc áo Ngài đang mặc. Thánh Tôma Aquinô nói rằng, nếu muốn thấy minh họa hoàn hảo về các mối phúc, hãy nhìn lên Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá. Ngài đã nêu rõ nhận định này như sau: nếu bạn muốn là người có phúc, hãy xem thường những gì Chúa Giêsu xem thường và yêu mến những gì Ngài yêu mến trên thập giá. Chúa Giêsu đã khinh thường điều gì trên thập giá nếu không phải là các đam mê thâm căn cố đế của loài người, giàu có, khoái lạc, quyền lực và danh vọng? Gốc rễ của tội là sợ hãi, đặc biệt là sợ chết. Để chống lại nỗi sợ đó, người ta thổi phồng cái tôi, điểm tô nó bằng sự tán dương của người đời hoặc chất đầy nó với những hàng hoá trần tục. Nhưng Chúa Giêsu chịu đóng đinh hoàn toàn tách biệt khỏi của cải và những gì thuộc về thế gian. Ngài bị lột trần, và đôi tay bị đóng vào gỗ thánh giá, nên không thể cầm nắm được gì cả. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu cũng tách mình khỏi những khoái lạc. Trên thập giá, Ngài đã nếm trải loại cực hình đau đớn nhất về thể xác, một nỗi đau đớn tột cùng theo đúng nghĩa của nó, nhưng Ngài cũng cảm nghiệm đau khổ tột cùng về mặt tâm lý và thậm chí là cả mặt thiêng liêng nữa. Chúa Giêsu bị tước đi quyền lực, thậm chí đến mức không thể cử động hoặc tự vệ bằng bất kỳ cách nào. Cuối cùng, trên thập giá khủng khiếp đó, Ngài đã hoàn toàn tách mình khỏi những lời ca tụng của người khác. Tại một nơi người qua kẻ lại không xa cổng thành Giêrusalem, Ngài bị treo trên khổ giá, phải hứng chịu những lời nhạo báng của đám đông, bị phơi bày ra trước mặt dân chúng như một tên tội phạm tiêu biểu. Ngài đã phải trải qua một sự sỉ nhục hiếm thấy. Do đó, một cách thâm sâu nhất, Đấng chịu đóng đinh đã thoát khỏi bốn cám dỗ tiêu biểu khiến loài người phải xa lìa Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã diễn tả điều này bằng ngôn từ sống động: “Ngài đã đóng đinh tội lỗi của chúng ta vào thập giá”. Nhưng Chúa Giêsu đã yêu mến những gì trên thập giá? Ngài yêu mến thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài đến nơi xa nhất của sự khốn cùng để mang tình yêu Thiên Chúa đến cả nơi tăm tối nhất, và Chúa Giêsu đã yêu mến sứ mệnh đó đến cùng. Chính vì khước từ bốn cám dỗ lớn lao của kiếp người mà Chúa Giêsu đã thực hiện được sứ vụ đó. Trên thập giá, những gì Ngài yêu thích và xem thường có sự hài hòa kỳ lạ. Tinh thần nghèo khó, hiền lành, sầu khổ và sự bắt bớ, đã làm cho Chúa Giêsu có được tấm lòng trong sạch, hết sức tìm kiếm lẽ công chính, trở thành người kiến tạo hòa bình vô song, và là nơi chuyển thông hoàn hảo lòng thương xót của Thiên Chúa đến cho thế giới. Mặc dù có vẻ cực kỳ nghịch lý, nhưng Chúa Giêsu chịu đóng đinh thực sự là người có phúc, là người thực sự hạnh phúc. Chúa Giêsu bị lột áo và bị đóng đinh vào thập giá là biểu tượng của sự tự do, vì không gì có thể ràng buộc, ngăn cản Ngài đạt được điều thiện hảo đích thực, tức là làm theo ý muốn của Chúa Cha.   CHẶNG THỨ XI CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH Trên thập giá, Chúa Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Chết trên khổ giá của người Rôma, Chúa Giêsu cho phép toàn bộ sức mạnh thù hận cũng như rối loạn của thế giới tác động, và làm Ngài kiệt quệ. Ngài đã đáp trả không phải bằng bạo lực hay oán hận, mà bằng sự tha thứ. Vì vậy, Ngài đã xóa tội trần gian, nhấn chìm nó vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong Tin mừng Luca, Chúa Giêsu tự so sánh mình với gà mẹ mong muốn quy tụ gà con dưới cánh của mình. N.T. Wright nhận xét rằng đây không chỉ là một hình ảnh ủy mị, nhưng nói đến hành động của gà mẹ khi có nguy hiểm ập đến đàn gà con. Gà mẹ sẽ dùng thân mình như lá chắn, che chở đàn con an toàn dưới cánh. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã dùng chính thân thể hy tế của Ngài làm lá chắn, hứng chịu toàn bộ sức mạnh thù hận và bạo lực của thế gian. Ngài đã tiến vào nơi chốn của tội (vì ở đấy Ngài tìm thấy tội nhân là chúng ta) và để cho sức nóng và cơn thịnh nộ của tội hủy hoại chính mình khi Ngài dang cánh tay bảo vệ chúng ta. Suy gẫm hình ảnh ẩn dụ trên, chúng ta có thể đặc biệt hiểu rõ, tại sao những Kitô hữu sơ khai lại liên kết Chúa Giêsu chịu đóng đinh với người tôi tớ đau khổ của Isaia. Bằng cách chịu đựng sự đau đớn thập giá, Chúa Giêsu đã thực sự gánh lấy tội chúng ta; chính vì Ngài đã mang thương tích mà chúng ta đã được chữa lành. Qua hy tế cuối cùng của vị Thượng tế Giêsu, sự sống đời đời đã được ban cho toàn thể nhân loại. Hy tế thánh lễ là tham dự vào hành động vĩnh cửu vĩ đại này, qua đó Chúa Giêsu đại diện chúng ta bước vào cung thánh trên trời với chính máu của Ngài và bước ra với sự tha thứ của Chúa Cha. Khi vị thượng tế ra khỏi cung thánh và rảy máu trên dân, ngài đang hành động nhân danh ĐỨC CHÚA, đang canh tân công trình tạo dựng. Hy tế tối hậu đã được dâng lên, Chúa Kitô Linh mục hiện diện trong mỗi thánh lễ với bửu huyết của mình, và vũ trụ được phục hồi. Các hành động của vị linh mục tại bàn thờ là biểu hiện mang tính biểu tượng của thực tại mầu nhiệm này, đó là lý do tại sao linh mục được mô tả là đang hành động nhân danh Đức Kitô (in persona Christi). Mặc dù chỉ mình linh mục thừa tác mới có thể chủ tế thánh lễ và truyền phép Thánh Thể, nhưng tất cả những người đã được rửa tội cũng đều tham dự vào thánh lễ theo cách thức của một tư tế. Họ thi hành chức tư tế của mình thông qua lời cầu nguyện và thưa đáp, đặc biệt theo Hiến chế Lumen Gentium, bằng cách hợp nhất những hy tế và đau khổ cá nhân với hy tế cao cả của Chúa Kitô. Vì vậy, một người cha chứng kiến sự đau đớn của đứa con trai trong bệnh viện; một người mẹ chịu đựng sự nổi loạn của đứa con gái đang tuổi mới lớn; một người trai trẻ nhận được tin người anh tử trận; một người đàn ông lớn tuổi trằn trọc lo lắng suy nghĩ về tình hình tài chính bất ổn của mình; một nghiên cứu sinh chật vật hoàn thành luận án tiến sĩ; một đứa trẻ lần đầu trải qua sự tan vỡ của một tình bạn thân thiết; một người theo chủ nghĩa lý tưởng đương đầu với sự phản kháng ngoan cố của một đối thủ hoài nghi. Những người này có thể xem đau khổ của họ đơn thuần chỉ là nỗi đau đớn ngu ngốc, là rác rưởi của một vũ trụ thờ ơ. Hoặc họ có thể nhìn những đau khổ của mình qua lăng kính cái chết hy tế của Chúa Giêsu, khi xem đó như là phương tiện mà Thiên Chúa dùng để lôi kéo họ đến gần với Ngài.   CHẶNG THỨ XII CHÚA GIÊSU CHẾT TRÊN THÁNH GIÁ Theo Tin mừng Máccô, điều cuối cùng chúng ta nghe từ Chúa Giêsu là một tiếng kêu: “Chúa Giêsu kêu lên một tiếng lớn rồi gục đầu tắt thở”. Nhưng trong Tin mừng Gioan vốn thường nhấn mạnh đến chức tư tế của Chúa Giêsu, chúng ta lại nghe được lời có tính phụng vụ ngay trước khi Ngài trút hơi thở. Trong bản tiếng Latinh, đó là câu consummatum est: nghĩa là mọi sự đã hoàn tất. Điều đó khẳng định rằng một công việc đã được thực hiện, một điều gì đó đã được hoàn thành. Trong Tân ước chúng ta thường nghe đến hạn từ ứng nghiệm: “để Kinh thánh được ứng nghiệm” và “ứng nghiệm lời Kinh thánh”. Chúa Giêsu tự xem mình như là cao trào của một câu chuyện, là chương cao điểm của một tiểu thuyết, là điểm mấu chốt của một vở kịch lớn. Nếu không biết những diễn biến của vở kịch, chúng ta sẽ không biết Ngài. Và vở kịch này liên quan đến công trình cứu độ mà Thiên Chúa đã khởi xướng khi tạo dựng dân tộc Israel theo ý muốn của Ngài. Khi thế gian chệch đường vì tội lỗi, Thiên Chúa đã cố gắng tạo lập một gia đình có thể nhận biết và tôn thờ Ngài một cách đúng đắn. Tiến trình này bắt đầu với Ábraham và giao ước mà Thiên Chúa đã ngỏ lời với ông, rồi tiếp tục ngang qua Môsê và Đavít, khi Thiên Chúa bảo đảm với họ các giao ước tiếp theo. Chúa muốn hình thành một dân tư tế, một dân tộc ngay chính, một lời ca tụng đúng đắn. Dân tộc có trật tự như vậy sẽ trở thành nam châm thu hút các quốc gia khác trên thế giới. “Núi Xion, bồng lai cực bắc, từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây”. Dù Thiên Chúa luôn tín trung, nhưng Israel thì lại “đung đưa”, hay thay đổi. Dù các ngôn sứ kêu gọi họ quay về trung thành giữ giao ước, nhưng họ đã không nghe. Dù được thiết lập như một nơi chính đáng để ca ngợi, Đền thờ đã trở nên thối nát. Và Israel không phải là thỏi nam châm thu hút các quốc gia khác, nhưng đúng hơn là bệ đỡ và tôi tớ của các quốc gia ấy. Israel làm nô lệ cho Ai Cập, bị các đế quốc Assyri, Babylon, Hy Lạp và Rôma giày xéo. Thêm vào đó, các chi tộc của Israel, thay vì tập hợp lại quanh núi Sion, lại bị phân tán. Và vì thế, Israel bắt đầu mơ về một vị Vua Đavít mới, một nhân vật sẽ thành toàn mọi kỳ vọng của dân và hoàn tất việc cứu thoát của Thiên Chúa. Tác giả Tin mừng Gioan là một bậc thầy châm biếm, và một trong những điều khéo léo tuyệt với nhất của ông là tấm bảng mà Phongxiô Philatô đặt trên thập giá khi Chúa Giêsu đang hấp hối: Iesus Nazarenus Rex Iudaeorum (Giêsu Nazarét, Vua dân Do Thái). Tất nhiên, Tổng trấn Rôma có ý xem đó như một lời chế nhạo, nhưng tấm bảng - được viết bằng ba ngôn ngữ chính lúc bấy giờ, Do Thái, Latin và Hy Lạp - trên thực tế vô tình đã khiến Philatô trở thành người đầu tiên rao giảng Tin mừng. Trong Cựu ước, vua dân Do Thái được mệnh danh là vị vua của thế giới - và đây chính là điều mà Philatô đã công bố một cách hết sức hiệu quả. Ngay tại đồi Canvê, khi chỉ còn lại ba thành viên, cộng đoàn Giáo hội của Chúa Giêsu vẫn mang tính công giáo, vì Giáo hội đã được định sẵn để đón nhận tất cả mọi người. Vào Lễ Ngũ Tuần, các môn đệ đang tụ họp trong Nhà Tiệc ly đã được đầy tràn Thánh Thần và bắt đầu rao giảng Tin mừng. Thật kỳ diệu, những người có mặt tại Giêrusalem để tham dự lễ Lều đã nghe tiếng các môn đệ rao giảng bằng ngôn ngữ của mình. Các giáo phụ thấy rõ đây là sự đảo ngược của lời chúc dữ của tháp Babel, khi ngôn ngữ duy nhất của loài người bị phân chia, và vì thế, con người chống lại nhau. Giờ đây, qua lời loan báo của Vương quyền Chúa Giêsu, nhiều ngôn ngữ lại trở thành một duy nhất, vì xuyên mọi thời và mọi nơi, đây là sứ điệp mà mọi người đều nghe: Chúa Giêsu là vị Vua mới.   CHẶNG THỨ XIII THÁO XÁC CHÚA GIÊSU KHỎI THẬP GIÁ VÀ TRAO CHO ĐỨC MARIA Sau khi bị đóng đinh, Chúa Giêsu được tháo khỏi thập giá và đặt trong tay Đức Mẹ - bức tượng Pietà (Mẹ sầu bi) của Michelangelo đã khắc họa lại cảnh tượng nổi tiếng này. Qua nhiều thế kỷ, các học giả và những người ngưỡng mộ đã chú ý đến vẻ thanh thoát và tươi trẻ trên khuôn mặt của Đức Maria nơi tác phẩm Pietà. Chúng ta đoán chừng, Đức Maria ít nhất đã bốn mươi bốn hoặc năm mươi tuổi khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Tuy nhiên, Michelangelo lại diễn tả Mẹ như một phụ nữ trẻ trẻ, có lẽ ở độ tuổi đôi mươi. Những gì Michelangelo cho chúng ta thấy không chỉ là Đức Maria lịch sử nhưng, là Đức Maria như Evà mới, một người mẹ trẻ mãi không già của Giáo hội. Trong suốt cuộc đời, Michelangelo say mê nhà thơ Dante. Ở phần cuối của tác phẩm Divine Comedy [Thần khúc], chúng ta tìm thấy một dòng thơ nổi tiếng, được đặt trên môi của Thánh Bernarđô khi hát lên lời ca ngợi Mẹ Thiên Chúa: “Mẹ đồng trinh, nữ tử của Con Mẹ, khiêm tốn và cao trọng hơn mọi loài thụ nào”. Vì Con của Mẹ, theo xác thể, cũng là Ngôi Lời thần linh mà nhờ Ngài muôn vật được tạo thành, Đức Maria đích thực vừa là Mẹ vừa là nữ tử của Chúa Kitô. Michelangelo đã gợi lên mối tương quan độc nhất tuyệt đối này nơi sự trẻ trung của Mẹ Chúa Giêsu. Từ góc nhìn hoàn toàn theo hướng cấu trúc, điểm đặc biệt nhất của tượng Pietà là cách Michelangelo điều chỉnh để làm cho hình ảnh Chúa Giêsu và Đức Mẹ trông vừa tự nhiên vừa tinh tế, mặc dù trên thực tế, những gì chúng ta nhìn thấy là một người phụ nữ đang đỡ lấy thân xác của một người đàn ông trưởng thành trong lòng mình. Thực tế là hình thể của Đức Maria lớn hơn đáng kể so với hình thể của Đức Giêsu. Mẹ ôm trọn Đức Giêsu. Theo những lời tuyệt vời của nữ tu Wendy Beckett, Mẹ giống như một ngọn núi vĩ đại, và thân xác của Đức Giêsu giống như một dòng sông chảy xuống. Các giáo phụ đã so sánh Đức Maria với Hòm bia Giao ước chứa Mười Điều Răn, mà dân Israel xưa xem là nơi Thiên Chúa hiện diện. Vì vậy, Đức Maria, Đấng đã cưu mang Ngôi Lời nhập thể trong lòng mình, đã trở thành Hòm bia Giao ước cách tuyệt vời. Theo các trình thuật của Tin mừng, sau khi sinh Chúa Giêsu, Mẹ Maria đã đặt con vào một máng cỏ, nơi để thức ăn cho loài vật. Vào đỉnh cao của cuộc đời, Chúa Giêsu trở thành lương thực cho sự sống thế gian. Michelangelo đã miêu tả tay trái của Đức Maria với cử chỉ dâng hiến, như thể Mẹ đang trao ban Con của Mẹ như một món quà. (Đặc biệt cử chỉ này cũng có nơi phân cảnh gây gợi hình trong bộ phim Cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô khi Đức Maria, với vết máu Chúa Giêsu, dâng hiến Con Mẹ cho và vì chúng ta.) Tay phải Mẹ đỡ lấy Con mình nhưng chỉ chạm vào cách gián tiếp, qua tấm áo của Mẹ. Cả hai hình ảnh này đều quy chiếu về Thánh Thể. Giáo hội không ngừng dâng hiến thân xác Chúa Giêsu dưới hình bánh rượu. Và khi ban phép lành chầu Thánh Thể, vị linh mục chỉ chạm vào mặt nhật qua một tấm khăn choàng. Hãy nhớ rằng vật phẩm phụng vụ nghệ thuật là nhằm trang hoàng bàn thờ - tức là gắn liền với việc cử hành thánh lễ. Những gì chúng ta thấy nơi tác phẩm Pietà, hình ảnh Đức Mẹ đồng trinh ôm Con mình, là những gì chúng ta thấy nơi thánh lễ - cụ thể là việc dâng thân xác của Chúa Giêsu chịu đóng đinh vì sự sống của thế gian.   CHẶNG THỨ XIV MAI TÁNG CHÚA GIÊSU TRONG MỒ Giuse Arimathê, một người mến mộ Chúa Giêsu cách kín đáo, đã can đảm đến xin xác Chúa, và nhóm phụ nữ cùng đi với Chúa Giêsu từ Galilê đã nhìn xem cẩn thận nơi Chúa được mai táng. Khi những đối thủ vây chặt Ngài, đến cả những môn đệ thân thiết nhất cũng sợ hãi bỏ chạy, thì những phụ nữ này đã ở lại với Chúa Giêsu cho đến cuối cùng. Thánh Luca khéo léo trình bày các phụ nữ đã “đi theo” vào nơi táng xác Chúa Giêsu, cho thấy họ là những môn đệ trọn vẹn và không hề thay đổi. Chúa Giêsu muốn đi đến thập giá vì yêu mến thánh ý Chúa Cha, và do đó, những ai yêu mến Chúa - những ai muốn những gì Ngài muốn – cũng đi đến tận cùng kết cục cay đắng như vậy. Trong Tin mừng Gioan, chúng ta nghe kể rằng Chúa Giêsu được chôn cất trong ngôi mộ mới nằm trong một khu vườn, báo hiệu vườn Địa đàng mới, con đường trở lại khu vườn từ đó chúng ta đã bị đày ải vì tội. Như bất kỳ người viếng mộ nào, ba người phụ nữ đến mộ mang theo dầu với ý định tôn kính xác Chúa Giêsu. Chúng ta có thể tưởng tượng là sau đó, các bà thinh lặng ngồi tôn kính, suy ngẫm về cuộc đời và lời nói của một người bạn, thán phục trước cái chết bi thảm của Ngài. Nhưng ngôi mộ này có dấu hiệu bất thường. Trước hết các bà nhận thấy tảng đá đã lăn ra khỏi cửa mồ. Có thể bọn trộm mộ đã làm như vậy, hoặc một kẻ nào đó đã cố gắng phá hoại và báng bổ ngôi mộ. Ý tưởng đầu tiên lóe lên nơi các bà là ai đó đã phá hoại ngôi mộ. Sau đó, Kinh thánh nói rằng, “Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ hãi”. Ngôi mộ này không phải là cội nguồn của bình an và thanh thản, tĩnh lặng và suy niệm chiêm ngắm. Ngôi mộ này là nguồn gốc của khiếp sợ và nổi dậy. Thông thường, ngôi mộ là nơi cuối cùng và không thể tránh khỏi; còn ngôi mộ của Chúa Giêsu là nơi của điều mới mẻ gây sốc đến mức làm người ta hoảng loạn. Từ ngôi mộ của Chúa Giêsu, chúng ta biết rằng những quy luật tưởng là tự nhiên không còn là quy luật nữa, và những gì luôn chuyển động theo cách này thì giờ đây lại theo cách khác. Một số người nghĩ rằng họ sẽ làm cho sự Phục sinh trở nên dễ hiểu hơn, dễ chấp nhận hơn đối với con người hiện đại, nếu xem đó như câu chuyện phúng dụ, biến thành một biểu tượng mơ hồ về sự nghiệp bền bĩ của Chúa Giêsu. Nhưng khi đó ngôi mộ của Chúa sẽ không làm người ta kinh hãi nữa mà là ngôi mộ của sự buồn bã, tiếc nuối và an phận như nấm mồ của bất kỳ anh hùng bình thường nào khác. Việc loan báo Tin mừng liên quan đến việc Chúa Giêsu Kitô phục sinh từ cõi chết. Trên mỗi trang Tân Ước, người ta có thể nhận ra một sự phấn khích từ một điều hoàn toàn mới lạ và bất ngờ: đó là Đức Giêsu Nadarét, Đấng đã chết trên thập giá và được mai táng trong mộ, đã được cho sống lại nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Mọi thứ khác trong đời sống Kitô giáo đều bắt nguồn và liên quan đến ngôi mộ trống này. ---------------------------

Dân An Nam ta có một thói lạ…

980   2023-03-30 06:47:50 DÂN AN NAM TA CÓ MỘT THÓI LẠ… Joseph Tân Nguyễn, OFM Một học giả có lần nhận xét, “Dân An Nam ta có một thói lạ là gì cũng cười…” Trong bài này, tôi xin được phép nói lại, “Dân An Nam ta có một thói lạ là gì cũng ăn!” Thật vậy, người Việt chúng ta không chỉ biết chế biến nhiều món ăn rất thú vị và khoái khẩu, nhưng cũng thích tổ chức những cuộc ăn uống linh đình quanh năm. Chúng ta hay ăn không phải vì chúng ta ham ăn hay mê ăn, mà vì bản tính siêng ăn và coi trọng miếng ăn trong cách giao tiếp hằng ngày. Miếng ăn đối với chúng ta không chỉ để đáp ứng nhu cầu thể lý mà còn nói lên cái thể diện của cá nhân và dân tộc, vì qua cách học ăn học nói chúng ta học cách làm người. Trong kho tàng văn chương Việt Nam, từ sự tích “bánh chưng bánh dầy” cho đến việc An Tiêm “trồng dưa hấu”, tất cả đều nói lên một mạng giá trị mà người Việt đã gán cho “miếng ăn.” Do đó, ‘ăn’ không chỉ là một hành vi đơn độc bỏ thức ăn vào miệng nhưng là một biểu tượng văn hóa của chúng ta.   Văn hóa “hay ăn” thể hiện qua các chiều kích giá trị nhân bản, truyền thống gia đình, tương quan xã hội, đạo lý giao tiếp, nhưng rõ ràng nhất trong ngôn ngữ. Thật vậy, từ ngữ ‘ăn’ xuất hiện rất thường xuyên với nhiều ý nghĩa phong phú trong tiếng Việt. Cuốn “Đại Từ Điển Tiếng Việt” (NXB Văn Hóa Thông Tin, 1998) có ghi nhận trên 550 cụm từ (tục ngữ, phong dao) có dùng từ ‘ăn’ và ít nhất với 11 ý nghĩa khác nhau của ‘ăn.’ Một cách nào đó, ‘ăn’ là những viên gạch tác tạo nên sự nối kết giữa ngôn ngữ và văn hóa, luân lý đạo đức và phê bình xã hội trong tư tưởng người Việt. Hiếm mà có thể tìm được một từ nào khác có khả năng trở thành ‘điểm tụ văn hóa’ tương tự như chữ ‘ăn.’ Vì lẽ qua cách người Việt ‘ăn’ chúng ta sẽ nhận diện những sắc thái đặc thù và đa dạng của dân tộc tính, kể cả những cách chúng ta châm biếm và đánh giá thuần phong mỹ tục của chính mình.  Từ khi lọt lòng mẹ cho đến tuổi bạc đầu người Việt chúng ta ‘ăn’ không ngừng. Trẻ mới sinh chưa mọc răng đủ thì đã được ăn đầy tháng. Con nít chưa biết nói đầy năm thì ăn sinh nhật. Bậc anh chị thì hay ăn hiếp hay ăn dỗ em út. Lúc còn bé thì lo ăn học, đến tuổi dậy thì thích đua đòi ăn mặc. Con cái thành tài thì ăn khao, ăn mừng. Trai gái đến tuổi biết ăn chơi khi tình tứ quá ăn khớp với nhau, chưa đến tuổi ăn hỏi, ăn cưới thì đã lo toan chuyện ăn nằm. Con trai thì thích ăn to nói lớn, con gái thì thích ăn quà, ăn hàng. Các cụ rụng gần hết răng nhưng vẫn thích ăn trầu. Cha mẹ còn sống thì chúng ta tổ chức ăn lục tuần, bát tuần. Các cụ qua đời chúng ta vẫn tiếp tục ăn, ăn giổ. Trong những dịp đại lễ thì ông bà tổ tiên quá cố được mời về để cùng ăn mừng với con cháu. Thậm chí, người ta còn đem thức ăn ra mộ hoặc treo ngoài cây để người chết cũng được ăn với kẻ sống. Nói cách khác, tuổi nào cũng có cái thú ăn của tuổi ấy, có lẽ bản tính hay ăn đã có từ thời ông bà tổ tiên chúng ta còn ăn lông ở lỗ.  Nhưng trong cái ăn của người Việt có tiềm tàng một dân tộc tính rất thâm thúy. Chúng ta tổ chức nhiều dịp ăn uống đình đám không phải vì chúng ta mê ăn, nhưng vỉ chúng ta coi trọng nghi lễ và giá trị luân lý đạo đức của miếng ăn nhất là nơi công cộng, “ăn cổ đi trước, lội nước theo sau.” Không ai ăn bất cứ gì, ăn bất cứ lúc nào, ăn bất cứ ở đâu, hay ăn bất cứ với ai. Có những món chỉ ăn trong ngày Tết, trái lại có những thức ăn khác thì dùng quanh năm. Người ta phân biệt đầy tớ thì ăn mâm dưới, chủ ăn mâm trên. Ăn không đúng bữa thì gọi là ăn vặt, ăn không đúng tư cách thì gọi là ăn vụng, vay mượn mà không trả gọi là ăn quịt, làm ăn không thật thà gọi là ăn gian, và ăn mà không làm việc gì cả thì gọi là ăn hại. Dịp nào thì có cách ăn của dịp ấy. Dọn nhà thì ăn tân gia, đầu năm thì ăn Tết, cuối năm ăn tất niên. Người trần tục thì ăn mặn, kẻ tu hành thì ăn chay. Xã hội coi trọng những người biết lo làm ăn, và coi thường kẻ ăn không ngồi rồi. Còn những hạng người ăn hại hay ăn bám, hay ăn cơm nhà đi gác ngà voi thì thường bị xem như vô dụng. Dù cho sống ở thành thị hay thôn quê, người Việt đều thừa nhận sự liên kết giữa miếng ăn và cách chúng ta ăn nói trong xã hội. Tục ngữ Việt Nam có câu, “có ăn thì phải có nói,” do đó khi miếng ăn không phù hợp với lời nói thì dễ bị người đời chê trách. Ăn trở thành cơ hội để chúng ta học những bài học luân lý để đời. Từ thủa tấm bé, ông bà đã không ngại dùng hình ảnh ăn uống để dạy dỗ con cháu về cách xử thế, kính trên nhường dưới: ăn trông nồi, ngồi trông hướng. Thành công hay thất bại không lệ thuộc hoàn toàn qua vật chất ta sở hữu mà ở sự khéo léo: khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Làm người thì phải biết ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Sống đạo nghĩa thì phải biết ăn hiền ở lành. Đức tính cần cù, chu đáo sẽ đem lại thành quà trong cuộc sống: ăn cây nào, rào cây ấy. Trái lại những hạng người tùy cơ tiến thân, ăn cháo đá bát thì coi như là bất nhân, bất nghĩa. Cái vòng nhân quả của miếng ăn thì lan tràn qua nhiều thế hệ: cha mẹ ăn mặn, con khát nước. Vì học ăn học nói là học làm người cho nên bữa ăn là biểu tượng thiêng liêng của người Việt: Trời đánh tránh bữa ăn!  Nhưng khi lớn lên, đụng chạm với đời mới biết cuộc sống như một ván cờ, ai ai cũng phải bon chen, toan tính chuyện ăn thua đủ. Người đi buôn thì phải khôn khéo biết cách ăn lời, ăn lãi thì mới mong thành công. Giữa chợ đời những kẻ ăn tục nói phét thì lại hay bắt được các manh mối. Trong xã hội có những hạng người thích ăn trên ngồi trốc, trước mặt thiên hạ thì hét ra lửa, mửa ra khói. Trái lại sau lưng thì họ ăn hối lộ, hay ăn bớt, ăn xén của công, dùng quyền hành của mình để hăm dọa, ăn tươi nuốt sống kẻ thấp cổ bé miệng. Cho dù biết rằng miếng ăn là miếng nhục, nhưng vì xã hội Việt Nam coi trọng thể diện giữa công chúng, nên một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp.  Người Việt hay ăn, không phải vì đói rách, nhưng nhiều khi cũng vì cuộc sống đưa đẩy chúng ta vào hoàn cảnh éo le nào đó. Lấy ví dụ, nhiều gia đình phong lưu thì lâm vào cảnh ông ăn chả, bà ăn nem, hoặc ăn vụng mà không biết lau miệng. Đấng mày râu ăn ngày không đủ tranh thủ đi ăn đêm. Chị em ta lắm khi lên voi xuống chó phải đi ăn sương mới đủ sống. Khi thất thế chúng ta cũng phải chịu đấm để được ăn xôi. Người tranh đấu cho lý tưởng phải can đảm chấp nhận cảnh ăn gió nằm sương. Bậc hiền nhân có lúc sa cơ cũng phải ăn bờ ở bụi, nằm gai nếm mật. Cơ cực quá thì cũng phải ngửa tay đi ăn mày, ăn xin, hoặc thậm chí phải ăn trộm, ăn cướp để mưu cầu cho cuộc sống. Ngoài ra cũng có hạng người ăn mật trả gừng, sẵn sàng bán đổi nhân tình vì chút danh vọng. Ai ai cũng muốn ăn, thậm chí ăn không được thì cũng có cách ăn mà không cần phải nói gì, đó là ăn vạ! Có lẽ vì tính cách thiêng liêng của nó, cho nên ‘ăn’ trở nên một trong những biểu tượng cổ xưa nhất để nói lên mối tương quan giữa con ngưởi và thần linh. Các nhà nhân chủng học tôn giáo cho thấy trong các tôn giáo cổ đại có những điển tích về thần linh hy sinh trở thành của ăn cho con người (Enuma Elish), hoặc con người được hiến tế như của ăn cho thần linh. Sau đó thì có huyền thoại về thần linh ăn uống chung với con người hoặc con ngưởi ăn với nhau để tưởng nhớ thần linh. Kinh Thánh cũng đã dùng vô số hình ảnh ăn uống để nói về giao ước giữa Thiên Chúa với con người, ví dụ chiên Vượt Qua và mana trong sa mạc. Trong Do Thái giáo, sau biến cố Abraham dự tính đem Issac con mình hiến tế cho Thiên Chúa thì súc vật được dùng để thay thế, và cuối cùng, của lễ toàn thiêu thì không hài lòng Thiên Chúa cho bằng tấm lòng thành khẩn hoán cải.   Trong Tân Ước Chúa Giêsu gọi mình là Bánh Hằng Sống và đã trao chính thân mình làm Chiên Vượt Qua để giải thoát Dân Chúa khỏi ngục tù của tội lỗi và sự chết. Qua miếng ăn (trái cấm) tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian, thì cũng qua miếng ăn khác (Mình Máu Chúa) chúng ta được cứu rỗi. Phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu là khi Ngài đi ăn cưới. Khi sống lại chính Ngài cũng đã ăn bánh trước sự ngỡ ngàng của các môn đệ. Đức Giêsu đã làm phép lạ để cho nhiều người ăn khi họ bị đói. Ngài cũng đã bị Satan dùng miếng ăn để cám dỗ trong cơn đói sau 40 ngày trong sa mạc. Và chính Ngài đã không ngần ngại ăn uống với người ‘tội lỗi.’ Nhưng quan trọng hơn nữa, Đức Giêsu đã dùng vô số hình ảnh và dụ ngôn về ăn uống để nói về Nước Trời và tấm lòng bao dung vô hạn của Thiên Chúa: người con hoang đàng vì thiếu ăn mà phải trở về nhà cha; người anh vì con chiên béo mà ganh tỵ với em mình, từ chối không vào nhà, …. Nói chung, lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ đến cho bất cứ ai biết ăn năn thống hối. Cuối cùng, chúng ta có thể kết luận rằng ‘ăn’ không chỉ nuôi dưỡng thân xác mà còn là cách chúng ta thiết lập nhân bản và học làm người. ‘Miếng ăn’ có thể dẫn đến tội lỗi, sa đọa cho kiếp nhân sinh, nhưng cũng là điểm tụ văn hóa, qua đó chúng ta học biết cách đánh giá cuộc sống. Ăn không chỉ là cái chúng ta ‘có’ nhưng cái chúng ta ‘là’ và đang ‘trở thành.’ Thật khó mà tìm được một phạm trù tương tự không chỉ bao hàm mọi khía cạnh của hiện sinh mà còn mở ra con đường để con người có thể kết nối với Đấng Siêu Việt.  

Hãy nhìn vào bên trong tâm hồn để khám phá vẻ đẹp của người khác

1234   2023-08-26 22:53:46 HÃY NHÌN VÀO BÊN TRONG TÂM HỒN ĐỂ KHÁM PHÁ VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI KHÁC Các bạn trẻ thương mến, Hôm nay cha có điều này muốn tâm sự cùng các bạn trẻ, nhất là một số các con vừa mới tham dự Đại hội giới trẻ được tổ chức tại Thành phố Lisbon, nước Bồ Đào Nha, từ ngày mùng 2 đến ngày mùng 6 tháng 8 năm 2023, và nay đã trở về lại quốc gia của mình. Cha tin các con đã đón nhận được nhiều thông điệp độc đáo từ người Cha Chung kính yêu, Đức Thánh Cha Phanxicô qua các bài giảng và những gì mà Ngài đã chân tình chia sẻ với chúng con. Cha thấy những điều đó vô cùng quý giá và cha tin rằng, nó sẽ trở thành kim chỉ nam cho chúng ta trong hành trình đời sống đức tin trong tương lai. Riêng đối với cha thì cha có điều này muốn gửi đến chúng con. Cha nhớ đã từng đọc một câu chuyện về một người đàn ông đang khám phá một số hang động bên bờ biển. Tại một trong những hang động, anh ta tìm thấy một chiếc túi vải với một loạt các quả bóng nhỏ được làm bằng đất sét cứng. Nó giống như ai đó đã vo tròn một số đất sét thành hình các trái bóng nho nhỏ và để chúng ra ngoài nắng để chúng có thể khô lại và trở nên cứng rắn. Chúng trông không giống các quả bóng lắm, nhưng chúng khiến người đàn ông tò mò nên anh ta đã mang theo chiếc túi ra khỏi hang. Khi đi dạo dọc bãi biển, để giết thời gian, anh ấy đã ném từng quả bóng đất sét nhỏ ra biển với độ xa nhất có thể. Anh ấy ít nghĩ về nó và cũng chả quan tâm những quả bóng nho nhỏ ấy như thế nào, cho đến khi anh ấy đánh rơi một trong những quả bóng và nó nứt ra trên một tảng đá. Bên trong là một viên đá quý rất đẹp. Quá phấn khích, người đàn ông bắt đầu đập vỡ những quả bóng đất sét còn lại. Mỗi cái chứa một kho báu tương tự. Anh ấy đã tìm thấy những viên ngọc trị giá hàng nghìn đô la trong khoảng 20 quả bóng đất sét nhỏ mà anh ấy còn lại. Sau đó, anh ấy mới bật tỉnh và nhận ra sự thật. Anh ấy đã ở trên bãi biển một thời gian dài. Anh ấy đã ném khoảng 50 hoặc 60 quả bóng đất sét với kho báu ẩn giấu của chúng xuống sóng biển. Thay vì kho báu hàng nghìn đô la, anh ta có thể có hàng chục nghìn đô la, nhưng anh ta đã vô tình vứt bỏ tất cả. Bạn biết đấy, đôi khi điều đó, nó cũng thỉnh thoảng xảy ra như vậy với mọi người. Chúng ta nhìn vào ai đó, thậm chí có thể là chính chúng ta, và chúng ta nhìn thấy chiếc bình bằng đất sét với hình dạng bên ngoài của nó. Có lẽ nó trông chả hấp dẫn gì cả với cái nét bên ngoài của nó. Vì nhìn từ bên ngoài, nó không phải lúc nào cũng có vẻ đẹp yêu kiều và lung linh tỏa sáng, cho nên chúng ta hay coi thường và đánh giá thấp về chân giá trị của một ai đó. Đôi khi chúng ta chỉ xét đoán người khác bằng hình thức bên ngoài, tỉ dụ như cách ăn mặc hay ngoại hình của họ, rồi chúng ta đưa ra nhận xét và cho rằng: họ kém quan trọng hơn một người nào đó hoặc ít xinh đẹp hơn, sành điệu hơn, nổi tiếng hơn hoặc giàu có hơn ai đó.  Nhưng chúng ta đã không dành thời gian để tìm ra kho báu ẩn chứa bên trong con người đó. Có thể nói trong mỗi chúng ta có một kho báu ẩn giấu. Cha rất thích câu nói: “đừng đánh giá cuốn sách ngang qua bìa của nó.” Thực sự mỗi người trong chúng ta đều là công trình sáng tạo tuyệt diệu của Thiên Chúa. Ngài đã dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài và phú ban cho mỗi người những khả năng riêng biệt. Phẩm giá con người chẳng thua kém gì các thần linh như đã được mô tả qua Thánh Vịnh số 8:2-10. Oai phong ĐỨC CHÚA và phẩm giá con người 2 Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu! Uy phong Ngài vượt quá trời cao. 3 Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan. 4 Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, 5 thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? 6 Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, 7 cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân: 8 Nào chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng, 9 nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương. 10 Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu! Có thể nói mỗi người chúng ta giống như những viên ngọc quý được bao bọc bởi làn đất sét bên ngoài. Điều này nếu chúng ta bình tâm suy gẫm thì lúc đó bạn sẽ khám phá ra, là không chỉ cơ thể vật chất của chúng ta, mà cả bản chất tinh thần của chúng ta, đôi khi bị che giấu khỏi những người khác bởi cái vỏ “bình đất” bên ngoài. Nhưng nếu bạn dành thời gian để tìm hiểu người đó, và nếu bạn cầu xin Chúa Thánh Linh giúp cho bạn nhìn thấy người đó theo cách mà Ngài nhìn họ, thì viên ngọc rực rỡ bắt đầu tỏa sáng. Vinh quang của tình bạn không phải chỉ là một bàn tay dang rộng, cũng không phải chỉ là một nụ cười thân thiện, cũng không phải là niềm vui của sự đồng hành; nhưng đó là nguồn cảm hứng tinh thần đến với một người, khi họ phát hiện ra rằng, một người khác đã tin tưởng ở nơi họ và sẵn sàng chấp nhận và xem họ như là một người bạn hữu thân thương. Điều này làm cho cha cũng liên tưởng đến câu chuyện: “The Beauty and the Beast – Mỹ nhân và Quái vật” đã được dựng thành cuốn phim thật hấp dẫn và thu hút không biết bao nhiêu người xem qua nhiều thời đại. Nội dung của cuốn phim đó được bắt nguồn cảm hứng từ câu chuyện với chủ đề, chỉ có tình yêu đích thực và vô vị lợi xuất phát từ một tâm hồn sẽ có khả năng phi thường để biến đổi một con “quái vật” trở thành một Hoàng Tử khôi ngô tuấn tú. Có thể nói đại đa số chúng ta đều tiềm ẩn cái hình hài và chứa đựng phẩm chất “quái vật” trong tâm hồn mình. Tất cả những điều này cần được biến hoá thành những viên ngọc quý và tỏa chiếu ánh sáng rạng ngời nhằm biểu lộ vẻ đẹp nội tại từ sâu thẳm nơi tâm hồn của chúng ta và để điều ấy có thể trở thành hiện thực, mỗi chúng ta cần được tình yêu đích thực chạm đến hầu biến đổi tận căn con người của chính mình. Tình yêu đích thực ấy trước tiên đến từ Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương con người từ muôn thuở, ngay cả trước khi vũ trụ này được hình thành và tình yêu ấy vẫn luôn trao ban cho chúng ta qua người con chí ái của Chúa Cha, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Nhờ vào tình yêu tự hiến qua cái chết bi thương trên thập giá, Con Một Thiên Chúa đã đổ máu mình ra để cứu chuộc nhân loại và để đền bù tội lỗi của chúng ta, ngõ hầu ta được giao hoà với Thiên Chúa, được biến đổi toàn diện con người cũ của mình, hầu trở thành một tạo vật mới, nhờ vào quyền năng thánh hoá và biến đổi của Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta sau biến cố phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, ngõ hầu giải thoát con người tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống đời đời, sống vinh quang và bất diệt trong ân nghĩa với Thiên Chúa. Kế đến, tình yêu đích thực ấy cần được đón nhận và trao ban từ những người sống trong cùng một gia đình, hay tại một cộng đoàn giáo xứ hay nhà Dòng, nơi môi trường học vấn, nơi công sở v.v… Chỉ có tình yêu đích thực và vô điều kiện mới có sức cảm hoá và biến đổi con người của chúng ta thành những con người biết sống cho kẻ khác và sẵn sàng dấn thân phục vụ cách vô vị lợi. Cha cầu chúc cho các bạn trẻ biết nhận ra nét đẹp và sự cao quý nơi chính tâm hồn của mỗi người chúng con, do chính Thiên Chúa đã ban tặng khi đặt để chúng con hiện diện trên vũ trụ này, và ước gì vẻ đẹp ấy ví tựa như viên ngọc quý, luôn tỏa sáng mỗi ngày bằng các việc làm tốt lành và đời sống thánh thiện của chúng con. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho tất cả mọi nỗ lực và cố gắng của chúng con trong hành trình tương lai. Thân ái Cha Trần Mạnh Hùng  

Sống tự do trong ơn gọi

1343   2024-01-25 20:34:28 SỐNG TỰ DO TRONG ƠN GỌI   Susana Vilas Boas | Nhà  truyền giáo giáo dân Dòng Comboni Chủng sinh Giuse Huỳnh Chí Khang chuyển ngữ từ Word Mission Con đường ơn gọi là con đường của giải thoát và biện phân tự do của mỗi người. “Tình thương vẫn sẽ giải quyết được vấn đề tự do; những người yêu nhau sẽ trở nên bất khả chiến bại.” Những lời này của Walt Whitman, một nhà thơ và ký giả người Mỹ, khiến tôi mới đây phải suy nghĩ về chiều kích tự do trong ơn gọi. Nếu đúng là khái niệm tự do thường bị hiểu sai và nhầm lẫn là đơn thuần “làm điều mình thích”, thì khi chúng ta nghiêm túc suy nghĩ về vấn đề này, chúng ta biết mọi thứ không hoàn toàn như vậy. Tự do và ơn gọi là hai mặt của một đồng tiền: chúng  không thể tách rời và chỉ có giá trị khi ở bên nhau. Quả thật, như Đức Thánh Cha Phanxicô cảnh báo, “người ta không thể đòi hỏi từ con người một sự dấn thân tôn trọng đối với thế giới, nếu không công nhận kiến thức, ý chí, tự do và tinh thần trách nhiệm đặc biệt của con người và đánh giá cao các khả năng đó” (Laudato Si', 118). Bởi ơn gọi không phải là cái “bên ngoài” hay “phụ thêm” trong cuộc sống của chúng ta, nên tự do có thể được sống một cách đích thực trên con đường phân định ơn gọi suốt cuộc đời của mình. Chúng ta tự do lựa chọn sống trọn vẹn con người mình và do đó, sự tự do của chúng ta được phát triển (bằng sự lựa chọn) theo yêu cầu của con người chúng ta và những gì chúng ta muốn trở thành. Chẳng hạn, điều này cũng xảy ra trong những mối quan hệ tình yêu. Tình yêu có những đòi hỏi khiến chúng ta phải bỏ chạy và vượt qua sự tự mãn. Chúng ta tự do chọn sống lưu tâm đến những người chúng ta yêu thương và hy sinh những ý tưởng bất chợt của mình vì hạnh phúc của họ và đó là nơi chúng ta cảm thấy trọn vẹn hạnh phúc đích thực. Tự do với trách nhiệm Vì thế, con đường biện phân ơn gọi xuất hiện như là con đường của của giải thoát và biện phân tự do của mỗi người, vì “sự tự do của con người có thể đem đến một sự nâng đỡ khôn ngoan cho một sự phát triển tích cực, nhưng cũng có thể gây nên một điều xấu mới, những nguyên nhân của khổ đau và suy thoái đích thực” (Laudato Si', 79). Tự do mà không có trách nhiệm thì nó trở nên ngột ngạt và thành một gánh nặng cho con người và những người xung quanh. Quả thật, nếu sống tự do chỉ với một ý thức vị kỷ, thì việc “chỉ làm những gì mình cảm thấy thích” đưa người ta tới vòng xoáy chủ nghĩa cá nhân, mà trong một thời gian ngắn sẽ biến thành nỗi cô đơn sâu thẳm. Mặt khác, khi sống như thế, chúng ta đang huỷ hoại và tiêu diệt mọi sự và mọi người xung quanh. Rốt cuộc đâu là điều thích hợp của mối quan hệ với ai đó mà chỉ ý muốn của họ mới đáng giá? Suy nghĩ về tự do với trách nhiệm là mở ra cánh cửa trải nghiệm nó trong suốt cuộc đời một người. Để làm được điều này thì rất cần can đảm để thấu hiểu và phân biệt ý thích với sứ mạng; và ích kỷ cũng như quà tặng là gì? Chúng ta phải làm sao? Ngay từ đầu, kiểu phân định này không phải là điều có thể thực hiện một mình! Giải thoát bản thân Có một số dây ràng buộc mà chúng ta phải cắt bỏ để được tự do đích thực. Đầu tiên thực sự là mối dây tự chủ. Bất cứ khi nào chúng ta tin rằng có thể tự mình biết và chọn điều tốt nhất, là chúng ta đang chìm đắm trong “thế lực mù quáng của vô thức, của nhu cầu trước mắt, của chủ nghĩa cá nhân”. (Laudato Si', 105). Điều này không nghĩa chúng ta sẽ phải sống và suy nghĩ như bao người người khác, nhưng chúng ta phải sống có trách nhiệm và tìm một ai đó đồng hành với mình cũng như giúp chúng ta nhìn xa hơn và nhìn vào chính mình. Khi chúng ta hoàn toàn tin tưởng ai đó, không có nghĩa là chúng ta sẽ mù quáng đi theo họ nhưng [có nghĩa là] chúng ta nên nghiêm túc lưu ý những gì người đó nói khi suy nghĩ và quyết định trong cuộc sống. Nếu không cắt đứt sự ràng buộc này chúng ta sẽ không bao giờ có tự do đích thực. Chúng ta sẽ chỉ là cô đơn thực sự. Một sợi dây ràng buộc khác cũng phải được phá vỡ là ý tưởng về sự mất mát. Mỗi ngày, hầu như mọi khoảnh khắc, chúng ta đều phải lựa chọn: Chúng ta thức dậy mấy giờ? Mặc gì? Ăn gì? Chúng ta đi đâu và bằng cách nào? Mọi thứ đòi hỏi chúng ta phải đưa ra lựa chọn, mà đôi khi  liên quan đến những điều đơn giản và khi khác lại đòi hỏi chúng ta nhiều hơn. Khi sử dụng tự do của mình để chọn lựa, chúng ta luôn luôn đứng trước một nhận thức về tha thứ: “Nếu tôi chọn con đường này, tôi sẽ đóng cửa với người khác. Thật là một mất mát lớn!” Tư tưởng này làm băng hoại sự tự do! Nó giam cầm con người trong khát khao có được mọi thứ khiến họ không thể trở thành phiên bản tốt nhất. Để giải thoát bản thân khỏi sự ràng buộc này thì phải chọn lựa cách vui vẻ - không vì dễ dàng lựa chọn, nhưng vì không có cảm giác mất mát, mà được lợi! Điều này làm tôi nhớ lại chuyến đi truyền giáo tại Cộng hoà Trung Phi. Khi đó, nhiều người nói với tôi “Nếu đi, bạn sẽ mất tất cả!” Và tôi luôn đáp lại “Tôi sẽ tìm thấy mọi thứ!” Quả thật thì không có gì mất mát: những mối quan hệ đích vẫn còn và được củng cố, môi trường làm việc thay đổi và tôi vẫn sống ổn. Tôi đã đạt được sự thỏa mãn của mình với tư cách là một con người và theo nghĩa đó, tôi đã chiến thắng mọi thứ! Nó có dễ dàng không? Có ai đang mong đợi những điều dễ dàng khi sống đích thực với con người của mình không? Đây là một sự ràng buộc khác mà chúng ta phải giải thoát bản thân nếu [chúng ta] muốn hoàn toàn tự do sống ơn gọi của mình. Con đường dễ dàng không nhất thiết là lựa chọn tốt nhất. Một lần nữa, cám dỗ đi theo chiều gió không phải là đường dẫn đến tự do. Nó loại trừ khả năng sống ơn gọi. Những người dám bước đi theo một con đường đích thực sẽ không bao giờ có một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng… sứ mạng này sẽ chỉ bất khả thi với những ai ảo tưởng mình có thể hoàn thành nó một mình. Sự tự do Sự tự do trong đồng hành ơn gọi dựa trên sự chắc chắn rằng con người có khả năng sống đích thực. Tin vào điều này là để nhìn vào bản thân và người khác với niềm hy vọng không bị cuốn theo những khó khăn và những lý do hoàn cảnh. Ngay cả khi chúng ta bước đi sai lầm, điều đó không có nghĩa là mất tất cả! Trái lại, mọi thứ là một phần của cuộc hành trình, vì “con người có thể vượt qua chính mình, chọn lại điều tốt và biến đổi bản thân, vượt ra khỏi những ràng buộc áp đặt lên họ. Họ có khả năng nhìn nhận bản thân cách trung thực, bày tỏ sự đau buồn của họ và dấn thân vào những con đường mới dẫn tới tự do đích thực” (Laudato Si', 105). Sự chắc chắn này sẽ khích lệ chúng ta trên đường đi của mình và mở ra những cánh cửa để nhìn người khác một cách tự do.  

CHÚC MỪNG VÀ CẦU NGUYỆN

Giuse Phan Thanh Liêm
Giuse Lê Văn Tín
Giuse Trần Quốc Hùng
Giuse Huỳnh Chí Khang
Giuse Nguyễn Mạnh Tường
Giuse Phạm Bảo Trường
Giuse Nguyễn Minh Trí
Giuse Võ Thái Thuận
Giuse Huỳnh Tấn Dũng
Giuse Nguyễn Mạnh Quân
Xem tất cả →