Thần Học

Như hạt lúa mì phải chết đi

876   2023-03-30 07:02:57

NHƯ HẠT LÚA MÌ PHẢI CHẾT ĐI

Peter Seewald

Nhóm dịch lớp Thần học II chuyển ngữ từ benedictusxvi.com  

Cuộc tranh luận về di sản của Đức Bênêđictô XVI vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, không một sử gia thế giá nào có thể khẳng định rằng: lịch sử vẫn diễn ra dù có hay không có Đức Hồng y Ratzinger. Di sản của ngài có ý nghĩa quan trọng đối với Giáo hội lẫn thế giới. Đó là một chứng tá cho thế kỷ, một con người luôn luôn tìm cách bảo tồn trong sự đổi mới và đổi mới trong sự bảo tồn.

picture-alliance/ dpa/dpaweb | epa ansa Claudio Onorati

Khoảnh khắc quan trọng: Ngày 19 tháng 4 năm 2005, Hồng y Joseph Ratzinger được bầu chọn làm người kế vị Đức Gioan Phaolô II. Ngài chọn tông hiệu là Bênêđictô XVI.

Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 11 năm 1992. Là một người trước đây ủng hộ chủ nghĩa cộng sản và là nhà báo của tạp chí Der Spiegel, tôi đặc biệt không thích Joseph Ratzinger. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi gặp một người đàn ông chẳng có chút khí chất nào của một “hoàng tử của Giáo hội”, chứ đừng nói đến một “Hồng y thiết giáp”.

Mọi thứ nơi ngài có vẻ khiêm tốn, không phô trương và dễ gần gũi. Khi nói về công việc của mình, vị Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin thú nhận với tôi rằng: ngài mệt mỏi và cảm thấy kiệt sức. Đã đến lúc để một người trẻ hơn đảm nhận nhiệm vụ của ngài. Mười ba năm sau, tại một trong những mật nghị bầu giáo hoàng ngắn nhất lịch sử, ngài đã trở thành người đứng đầu tổ chức tôn giáo lâu đời nhất và lớn nhất trên hành tinh. Thậm chí, ngài còn lập kỷ lục trở thành vị giáo hoàng sống lâu nhất kể từ thánh Tông đồ Phêrô.

“Thế giới bị chia rẽ sâu sắc khi vị Giáo hoàng là người Đức.”

Ngài được coi là một trong những nhà tư tưởng khôn ngoan nhất trong thời đại của chúng ta, như ánh sáng trên đỉnh đồi – đồng thời, ngài còn là một nhân vật gây tranh cãi, một người gây khó khăn cho đối thủ. Vị cựu Tổng trưởng cũng không hoàn toàn vô can trong vấn đề này. Cách giao tiếp trực diện, đôi khi cứng nhắc của ngài đã gây ra hiềm khích. Là nhân vật chính của một Giáo hội Công giáo đích thực, bản chất kiên định của Đức Ratzinger khiến ngài trở thành nhà lãnh đạo bên cạnh Đức Karol Woityla , gây nhiều tranh cãi nhất của Giáo hội,  đặc biệt là ở quê hương ngài.

picture alliance / dpa | L'osservatore Romano / Handout

Peter Seewald trong một cuộc phỏng vấn với Đức Bênêđictô XVI. Nhà báo đã đồng hành với công việc của Joseph Ratzinger gần 30 năm qua.

Sau khi từ chức, Đức Bênêđictô XVI tuyên bố: “Tôi không rời bỏ Thánh giá”. Ngài biết chính xác những gì ngài đang nói trong mối tương quan với Giáo hội và với chính ngài. Với tư cách là Giáo hoàng danh dự, chỉ cần ngài đưa ra một tuyên bố hay viết một bài nào đó cũng đủ bị các phương tiện truyền thông chỉ trích. Ngài bị buộc tội làm hỏng kế hoạch của vị kế nhiệm và vi phạm lời hứa thinh lặng. Sự thật là Đức Bênêđictô không chỉ trích Đức Thánh Cha Phanxicô một lời nào. Và, thực ra ngài cũng chưa bao giờ khấn hứa thinh lặng.

Âm mưu gần đây nhất nhằm làm mất uy tín con người và di sản của vị Giáo hoàng người Đức là những cáo buộc Đức Ratzinger đã che đậy các vụ lạm dụng tình dục và bảo vệ những thủ phạm trong thời gian ngài làm giám mục München. Tuy nhiên, vị Giáo hoàng danh dự không hề nói dối trong một tuyên bố như một công ty luật đã cáo buộc, cũng như không có bất kỳ bằng chứng quan trọng nào cho hành vi bị xem là “sai trái”. Chỉ là một lời buộc tội và là cơ hội để nói rằng “Giáo hoàng đã nói dối” khiến tạo ra một làn sóng phẫn nộ trên các phương tiện truyền thông, là điều mà nhiều kẻ mong muốn, và dĩ nhiên họ không thể bỏ qua cơ hội quá tốt này.

“Cuộc đời của Joseph Ratzinger là cuốn tiểu sử của một thế kỷ.”

Không một người Đức đương đại nào có tầm quan trọng như ngài. Joseph Ratzinger là một vị giáo sư trẻ trung, một ngôi sao lạ sáng chói trên bầu trời thần học, có khả năng mang lại một cách hiểu mới mẻ nhưng đầy thú vị và thông thái trong việc nhận biết và diễn tả các mầu nhiệm đức tin; là một “phát ngôn viên” ở tuổi 35 có những sáng kiến ​​đã đưa Công đồng Vaticanô II trở thành sự kiện giúp Giáo hội Công giáo đi vào thời hiện đại. Với tư cách là người bảo vệ đức tin, ngài đã đảm bảo cho con thuyền Giáo hội tiếp tục cuộc hành trình. Ngài nhấn mạnh rằng: dù Lời Chúa được truyền lại cho chúng ta qua Tin mừng, có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau và luôn mặc khải những mầu nhiệm mới; nhưng không thể bàn cãi về nội dung cơ bản của Lời Chúa.

picture-alliance / dpa | Matthias Schrader

Joseph Ratzinger không phải là “Hồng y xe tăng”. Dựa trên các cuộc nói chuyện với Peter Seewald, hằng triệu độc giả biết ngài là một trong những học giả thông thái nhất của thời đại.

Tôi sẽ không bao giờ quên những ngày lịch sử vào mùa xuân năm 2005. Hầu như không ai thực sự tin rằng “Grand Inquisitor” (Đại phán quan – tức vị đứng đầu toà Thẩm giáo trước kia, nay là Bộ Giáo lý Đức tin) có chút cơ may nào thể trở thành giáo hoàng. Cuối cùng, khi vị tân giáo hoàng bước ra ban công Vương cung thánh đường Phêrô, đám đông đã vang lên tiếng hò reo hân hoan inh tai. Un papa tedesco! – “Một giáo hoàng người Đức!” Người đầu tiên trong 500 năm qua. Một trăm ngàn người nhảy lên, vỗ tay cuồng nhiệt và ôm lấy nhau với đôi mắt đẫm lệ. Rất có thể chính Đức tân Giáo hoàng cũng đã rơi nước mắt. Cảm động vì tình thương của Thiên Chúa toàn năng, Đấng đã giao phó cả đàn chiên cho một người đàn ông yếu ớt như vậy vào cuối đời (theo ngài tự đánh giá). “Một người thợ đơn sơ và khiêm nhường trong vườn nho của Chúa” là cách Đức Bênêđictô XVI tự giới thiệu về mình. Tuy nhiên, ngài được an ủi vì “Thiên Chúa là Đấng luôn biết cách hành động ngay cả với những khí cụ bất xứng.”

Sau đó, ngài giơ hai tay lên, vui mừng, nhẹ nhõm, lòng bàn tay hướng lên, mở ra ngoài, giống như người ta thường thấy trong các bức tranh vẽ Chúa Giêsu. Patti Smith - một huyền thoại nhạc rock - đang đứng giữa đám đông khi ấy thừa nhận rằng: “Tôi đã khóc… Thậm chí từ một khoảng cách rất xa, bạn cũng có thể cảm nhận được con người của ngài. Tôi biết rằng: không phải mọi người đều yêu thích ngài, nhưng tôi nghĩ ngài ấy là một sự lựa chọn tốt. Tôi rất thích ngài.”

“Tôi đã rời bỏ Giáo hội, nhưng tôi bị ấn tượng bởi cách mà vị Hồng y này luôn nhấn mạnh đến tính ưu việt của tình yêu, hạt nhân nơi trung tâm của toàn thể Tạo thành.”

Ngài chỉ ra rằng tôn giáo và khoa học, đức tin và lý trí không đối nghịch nhau như thế nào. Cùng với thánh Augustinô – ngài nói rằng: “Tin đi, rồi bạn sẽ hiểu” (Crede, ut intelligas). Vì con người chỉ có thể tiếp cận được chân lý khi được Thánh Thần soi sáng. Cách thức giảng dạy của ngài gợi nhớ đến những bậc thầy tâm linh, thuyết phục không bằng những bài học vô bổ nhưng bằng những cử chỉ tinh tế, những dấu hiệu kín đáo, sự kiên trì nhẫn nại; trên hết là bằng gương sáng của chính họ, bao gồm sự chính trực, trung tín, can đảm và sẵn sàng chịu đau khổ.

picture alliance / REUTERS | OSSERVATORE ROMANO

Năm 2010, cuốn “Ánh sáng thế gian” được xuất bản: một cuộc đối thoại giữa Seewald với Đức Bênêđictô XVI.

Tôi thích sự hài hước khô khan, sự điềm tĩnh, sự ủng hộ của ngài đối với lòng đạo đức của những tín hữu đơn sơ. Với ngài, đối thoại thật quan trọng. Những tranh luận của ngài với những trí thức cánh tả, chẳng hạn như nhà xã hội học Jürgen Habermas, đã trở thành huyền thoại. Khi trò chuyện với tôi, thỉnh thoảng ngài gác một chân lên thành ghế, và sau đó, đang lúc thảo luận sôi nổi, tâm trí ngài “cất cánh” và bắt đầu bay bổng. Mặt khác, cũng không có vui vẻ vỗ nhẹ vào lưng. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc uống rượu whisky với ngài vào buổi tối. Gần ba mươi năm tháp tùng ngài với tư cách là một nhà báo, chưa lần nào ngài mời tôi đi ăn tối. Có thể do ngài muốn giữ khoảng cách cho các cuộc phỏng vấn báo chí giữa chúng tôi. 

Lớn lên trong một thời đại mà ảo tưởng muốn tạo nên một thế giới vắng bóng Thiên Chúa, và một “con người mới” kết thúc trong sự sợ hãi và tàn phá ngày tận thế, Ratzinger chưa bao giờ mất can đảm để chống lại “họ”; chống lại những gì “họ” đã nói khi suy nghĩ, nói năng và hành động. Nói lên sự thật ngay cả khi không thuận tiện là điều mà ngài cảm thấy buộc phải làm, cũng như phải chống lại mọi nỗ lực biến thông điệp của Chúa Kitô thành một tôn giáo phục vụ nhu cầu của “xã hội dân sự.”

Về Giáo hội, Ratzinger thực sự gây ấn tượng với một nhận định nền tảng; cụ thể là, “một sự đảm bảo thể chế đơn thuần sẽ là vô ích khi không ai trong thể chế này có thể vận hành nó với một xác tín nội tâm.” Đối với ngài, thật sai lầm khi nghĩ rằng chỉ cần mặc lên mình một lớp áo khác là sẽ được mọi người yêu mến và chấp nhận. Ít nhất là trong thời đại mà nhiều người không còn biết họ đang nói về điều gì khi bàn về đức tin Công giáo. Chỉ bằng cách duy trì các nguyên tắc đạo đức kiên quyết của mình, Kitô giáo mới có thể tiếp tục là một đối trọng thực sự trong những vấn nạn khó khăn của cuộc sống hiện đại.

“Về cơ bản, không một vị nào trong hàng giáo phẩm lại hoạt động cách quyết liệt như vậy để chống lại sự cào bằng và quan liêu hóa Giáo hội như ngài với tư cách là Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin.”

Ngài nhấn mạnh: “Giáo hội nhận được ánh sáng từ Chúa Kitô, nếu Giáo hội không đón nhận và làm lan tỏa ánh sáng này, thì Giáo hội chỉ là một cục đất buồn tẻ.” Đặc biệt, ngài chỉ trích những cơ sở Công giáo ở Đức vì đã bóp nghẹt “bản chất năng động của đức tin,” bằng sự bận rộn, những phô trương và những tranh luận gây tê liệt vốn “hoàn toàn lãng quên sứ vụ của Giáo hội Công giáo.” Theo ngài, những vấn đề chính yếu là việc hèn nhát tuân theo những tuyên bố của các thế lực truyền thông mạnh mẽ và sự thống trị của Mammon (tiền bạc, vật chất). Ngài nói, nhiều nhiều vị lãnh đạo trong Giáo hội, hầu hết là các giám mục nổi tiếng, đã không chỉ rời xa những mầu nhiệm và phúc lành của đức tin Công giáo, mà còn ngăn cản những linh hồn do họ chăm sóc được tiếp cận chúng. Hơn nữa, việc từ bỏ của cải thế gian để bảo tồn gia sản thực sự của Giáo hội chưa bao giờ gây tổn hại cho Giáo hội.

picture alliance / AP Photo | Gregorio Borgia

Peter Seewald nghĩ rằng, với việc từ nhiệm, Đức Bênêđictô XVI làm thay đổi chức giáo hoàng.

Phải chăng việc bầu chọn Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI thực sự là một sai lầm, và triều giáo hoàng của ngài là một chuỗi dài các vụ bê bối, như các nhà báo “ưa chỉ trích” không ngừng tuyên bố? Trong một chương trình trò chuyện, Christiane Florin cho rằng nếu cô phải viết tiểu sử về Ratzinger, thì tựa đề sẽ là: “Đó đã chẳng phải tôi.” Khi đó, cô Christiane là biên tập viên phụ trách mảng quan điểm Giáo hội của Chương trình Deutsche Welle, sẽ tránh được những lúng túng như vậy. Sự thật là tên Ratzinger gần như có thể đồng nghĩa với những khái niệm như kiên định, dũng cảm xác tín và trách nhiệm. Trong khi những người khác thoái lui, Ratzinger vẫn giữ vững lập trường của mình, dù lúc đó là một người lính 17 tuổi nghe các sĩ quan Đức Quốc xã nói rằng sau chiến thắng cuối cùng, sẽ không còn những người muốn trở thành linh mục như ngài, hay dù trong tư cách là một nhà thần học, phản đối những nỗ lực “đánh giá lại” Công đồng, hay dù trong tư cách là Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, ngăn cản những kẻ tuyên truyền đạo lý sai lầm.

 “Chân lý không phải để đàm phán.”

Không thể nào nhầm được lời chỉ trích của ngài vào hôm Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2005: “Có biết bao ô uế trong Giáo hội, ngay cả nơi những người, trong chức vụ tư tế, lẽ ra phải hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa!” Và trong khi một số các giám mục xác định vị trí của mình dựa trên những lời khen tặng của giới truyền thông, thì với Ratzinger, nhân nhượng không phải là một lựa chọn. Ngài nhấn mạnh: Chân lý không phải là thứ để thương lượng. Và, nếu sai lạc không còn bị phi bác nữa, thì đức tin, không hơn không kém, trở thành mẫu số chung thấp nhất; khi đó được gọi là “nhân nhượng”. Do đó, những gì đang được nhân nhượng lại ngày càng trở nên không phù hợp; quan trọng hơn là, bất kể là thứ gì, nó đều được nhân nhượng.

Stefano Dal Pozzolo/Romano Siciliani/KNA

Bức khảm Đức Bênêđictô XVI tại Đền Thánh Phaolô Ngoại thành Rôma. Seewald nhìn nhận một điều hiển nhiên: Đức Bênêđictô XVI là một trong những nhân vật xuất chúng nhất trong lịch sử Giáo hội.

Vào những năm 1980, báo chí bắt đầu gọi Ratzinger là “Đại Phán quan Toà thẩm giáo”, tên gọi do cha Hans Küng khơi lên nhằm hạ giá đồng nghiệp cũ – cũng như thêu dệt về việc Ratzinger chuyển từ cấp tiến sang phản cải cách. Trong thực tế, chẳng có sự chuyển đổi nào như vậy. Chẳng hạn, những ai đã đọc cuốn Dẫn nhập Kitô giáo của Ratzinger sẽ thấy ngài vẫn là một thần học gia trước cũng như sau năm 1968. Đây là lý do tại sao học giả Tân ước Siegfried Wiedenhofer tin chắc rằng cuộc xung đột với Ratzinger trên thực tế là “về một giao lộ của thời đại trong lịch sử Giáo hội”. Vấn đề là liệu có nên tiếp tục tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa theo như Kinh Tin kính, hay chỉ là một nhân vật lịch sử kêu mời chúng ta xem xét một số gợi ý thú vị về mặt đạo đức. Wiedenhofer cho rằng: “Dưới lăng kính này, chính bản chất và sự phù hợp của đức tin trong thế giới hiện đại đang bị đe dọa nghiêm trọng.”

Một người canh tân đức tin, dẫn dắt mọi người đến trọng tâm của Kitô giáo, chứ không nhằm phá bỏ đức tin.

Ngay cả nhiều thập kỷ tấn công cũng không thể ngăn cản kẻ thù không đội trời chung của cái gọi là “các phong trào giáo hội bình dân” trở thành thần học gia được đọc nhiều nhất trong thời hiện đại, với hàng triệu bản in trên toàn cầu. Có một điều chắc chắn là: với những cống hiến cho công đồng, việc tái khám phá các giáo phụ và hồi sinh các giáo thuyết, Ratzinger có thể được nhìn nhận là một nhà canh tân đức tin, như tất cả các nhà canh tân chân chính, đã giúp đưa nhiều người đến tâm điểm của đức tin Kitô giáo, chứ không nhằm phá bỏ nó. Cuộc đấu tranh của ngài chống lại nạn lạm dụng tình dục đã đặt nền móng cho sự minh bạch, đề phòng và đền tội. Nhiều cải cách của Đức Phanxicô được khen ngợi thật ra đã được khởi xướng lần đầu tiên bởi Đức Bênêđictô. Đối thoại liên tôn cũng như mối tương quan giữa Công giáo với Do Thái giáo đã trải qua một thời cực thịnh. Các thông điệp như Thông điệp Deus caritas est (Thiên Chúa là Tình Yêu) đã nâng văn kiện giáo hoàng lên một tầm mức giáo thuyết chưa từng có.

Katharina Ebel/KNA

Nhà báo kiêm tác giả Peter Seewald tại bàn làm việc. Những cuốn sách ông viết về Joseph Ratzinger/Bênêđictô XVI đã trở thành những cuốn bán chạy nhất trên thế giới.

Tông thư – Tự sắc Summorum Pontificum giúp tiếp cận và đề cao phụng vụ truyền thống. Và khi đang là giáo hoàng, ngài đã thực hiện một việc chưa từng có là từ chức và hình thành chức giáo hoàng danh dự, một hành động vĩnh viễn thay đổi chức vụ giáo hoàng. Hành động này đã làm cho Đức Ratzinger trở thành một trong những nhân vật nổi bật nhất trong lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội.

Đức Bênêđictô XVI đã không làm đúng mọi việc. Tuy vậy, ngài không ngần ngại thừa nhận những sai lầm của bản thân. Thế nhưng ngài cũng không phải là một “Giáo hoàng giáo sư” như báo chí thích gọi. Hình ảnh này có thể có sức lôi cuốn, nhưng không đạt được kết quả như mong muốn. Trên hết, Joseph Ratzinger là một mục tử nỗ lực sử dụng những ân huệ đã được trao ban cách dồi dào, cùng cá tính của ngài, nét thanh lịch trữ tình khi công bố sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô vì lợi ích của nhân loại. Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, Đức Bênêđictô XVI tự cho mình là vị giáo hoàng giữa hai thế giới, giáo hoàng cuối cùng của thế giới cũ và đầu tiên của thế giới mới. Ngài là vị giáo hoàng cuối cùng đã trực tiếp trải qua nỗi kinh hoàng của Đức quốc xã và Thế chiến. Vị giáo hoàng cuối cùng này là hiện thân của một Âu châu có văn hóa, tri thức đức tin đâm rễ sâu trong di sản Hy Lạp và La Mã cổ đại cũng như dấu ấn tôn giáo của Do Thái giáo và Kitô giáo. Người đầu tiên trong số các vị đại diện của Chúa Kitô đã được giao nhiệm vụ trình bày một nền Kitô học cho toàn thể nhân loại. Và sau hết, người đầu tiên thấy trước một Giáo hội vẫn sẽ tiếp tục tồn tại trong tình trạng tha hương (diaspora), cũng như mang đến cho người Công giáo một quan niệm để thực hành đức tin trong một xã hội tục hóa, khi họ đang gặp khó trong một thế giới thù nghịch với các truyền thống Kitô giáo.

 “Cuộc tranh luận về di sản của Đức Bênêđictô XVI vẫn sẽ tiếp tục.”

Joseph Ratzinger kết luận, chúng ta có thể đang đối mặt với một khúc quanh mới trong lịch sử Giáo hội, kỷ nguyên mà Kitô giáo một lần nữa sẽ tiêu biểu cho dấu chỉ về hạt cải, tồn tại “trong những nhóm nhỏ, có vẻ tầm thường, nhưng vẫn không ngừng chiến đấu chống lại sự dữ, mang lại những điều tốt đẹp cho thế giới và để cho Chúa được hiện diện trong thế giới.” Nếu chúng ta muốn tìm câu trả lời cho cuộc khủng hoảng của Giáo hội và không tuyệt vọng trước những vụ bê bối hiện tại, thì lời khuyên của Đức Benêđictô là đừng đồng hoá mình với các thế lực đang thắng thế trong cuộc khủng hoảng ấy, mà hãy bám vào đức tin của Giáo hội và của dân Chúa qua mọi thế kỷ. Tính hợp lý của đức tin, gương sáng của các thánh, vẻ đẹp và chiều sâu của đời sống phụng vụ – những điều này sẽ không hoàn toàn bị xóa sạch, bị phủ lấp và lãng quên bởi tinh thần chóng qua của thế hệ này.

Headings, subheadings, and quotations are editorial insertions.

Tiểu sử Đức Bênêđictô XVI do Peter Seewald chấp bút được coi là tác phẩm quốc tế tiêu chuẩn về cuộc đời của Joseph Ratzinger.

Cuộc tranh luận về di sản của Đức Bênêđictô XVI vẫn sẽ tiếp tục. Tuy nhiên, không một sử gia chân chính nào có thể khẳng định rằng nếu không có Ratzinger, lịch sử vẫn sẽ diễn tương tự như lúc có ngài. Di sản của ngài, có ý nghĩa hệ trọng đối với cả Giáo hội và thế giới, là di sản của một chứng nhân thế kỷ, một con người thao thức tìm cách bảo tồn trong sự đổi mới, và đổi mới trong sự bảo tồn. Về khía cạnh này, Đức Bênêđictô XVI, hơn bất kỳ ai khác, là hiện thân của câu chuyện về một Giáo hội đặt Đấng sáng lập và sứ mạng của mình ở ngay tâm điểm của mọi sự – và chỉ khi hành động như vậy, Giáo hội mới có thể đưa ra phương hướng và niềm hy vọng vượt lên trên những gì thuộc về thế gian này. Nếu Giáo hội Công giáo ở Đức đi theo đường lối của ngài, thì nó đã không bị vướng vào những mộng tưởng to tát, giống như giới chính trị Đức khi đối mặt với kẻ xâm lược thù địch tiềm tàng; có lẽ nó sẽ không có vị trí mạnh mẽ như ngày nay về số lượng Kitô hữu, nhưng chắc chắn Giáo hội Đức sẽ nổi bật hơn, có đức tin mạnh mẽ hơn và ý thức xác tín hơn.

Như hạt lúa mì phải chết đi

Một trong những dụ ngôn ưa thích của Đức Bênêđictô XVI là dụ ngôn hạt lúa mì phải chết đi để sinh nhiều bông hạt. Có lẽ sau khi ngài qua đời, ngay cả những quan sát viên bên ngoài Giáo hội cũng sẽ sẵn sàng nhìn Đức Giáo hoàng với đôi mắt mới. Trên bình diện quốc tế, chẳng cần đến một phong trào phục hưng Ratzinger, thì nhu cầu tìm hiểu công trình của ngài, và việc sẵn sàng thừa nhận ngài như là Tiến sĩ Hội thánh chưa hề suy giảm cho đến giờ phút này. “Chúng ta hãy dám sống như Chúa Giêsu Kitô,” Đức Giáo hoàng Bênêđictô kêu gọi các tín hữu, “Chúng ta hãy can đảm sống đức tin. Đừng để mình bị khuất phục bởi cáo buộc là thủ cựu lỗi thời. Đúng hơn thì thứ lạc hậu và hư nát là lối sống duy vật, luôn toan tính mọi cách để sống một cuộc đời không có Chúa. Nhưng Đức Kitô không chỉ là hôm qua và hôm nay, mà còn là mãi mãi, bởi vì sự vĩnh cửu là của Người.”

CHÚC MỪNG VÀ CẦU NGUYỆN

Giuse Phan Thanh Liêm
Giuse Lê Văn Tín
Giuse Trần Quốc Hùng
Giuse Huỳnh Chí Khang
Giuse Nguyễn Mạnh Tường
Giuse Phạm Bảo Trường
Giuse Nguyễn Minh Trí
Giuse Võ Thái Thuận
Giuse Huỳnh Tấn Dũng
Giuse Nguyễn Mạnh Quân
Xem tất cả →