Thần Học

Thiên Chúa của Kinh thánh

94   2026-03-21 15:01:48

THIÊN CHÚA CỦA KINH THÁNH[1]

Richard P. McBrien

Cựu ước

Do mối liên hệ mật thiết giữa Do Thái giáo và Kitô giáo – được thể hiện qua sự thống nhất của hai Giao ước trong Kinh thánh – nên việc tìm hiểu lịch sử hình thành sự hiểu biết Kitô giáo về Thiên Chúa ắt hẳn phải bắt đầu từ Cựu ước.

Ngày nay, gần như ai cũng thừa nhận một điều hiển nhiên trong thần học: dân Thiên Chúa trong Cựu ước không bận tâm đến suy luận triết học. Họ thường có khuynh hướng nhìn nhận và nắm bắt thực tại cách thực tế và cụ thể. Nguyên tắc này đặc biệt đúng khi nói đến cách họ hiểu về Thiên Chúa. Chẳng hạn, lối phân biệt thời Trung cổ giữa “yếu tính” và “hiện hữu” hoàn toàn xa lạ với tư duy Do Thái. Đối với người Do Thái, Thiên Chúa của họ là một Thiên Chúa hằng sống, mà họ biết được qua  danh Yahweh, được ban cho Môsê và con cháu ông  (Xh 3,13–15).

Đối với dân Israel, Yahweh hiện diện và hành động ở bất cứ nơi nào Danh Ngài được biết đến, nhìn nhận và kêu cầu. Kêu cầu Danh Yahweh chính là khẩn cầu Ngài hiện diện. Danh ấy là “vinh hiển” (Tv 72,19), “cao cả” (1V 8,42), “đáng kính sợ” (Đnl 28,58), “đáng tôn vinh” (Tv 148,13). Danh Ngài cũng là nguồn ơn giải thoát (Tv 54,3) và tôn vinh (Tv 33,21; 89,25). Danh ấy là sự phù trợ (Tv 124,8) và đáng tín thác (Tv 33,21; Is 50,10). Biết Danh Yahweh chính là biết chính Yahweh (Is 52,6; 64,1). Vì thế, điều cốt yếu để sứ mạng của Môsê thành công là ông phải biết được danh hay tên của Thiên Chúa:

Ông Môsê thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Ítraen và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao?” Thiên Chúa phán với ông Môsê: “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ítraen thế này: ‘Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.’” Thiên Chúa lại phán với ông Môsê: “Ngươi sẽ nói với con cái Ítraen thế này: YAHWEH, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác, Thiên Chúa của Giacóp, sai tôi đến với anh em.

Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia.” (Xh 3,13–15)

Ý nghĩa chính xác của Danh “Yahweh” thật khó xác định.  Không có sự đồng nhất giữa các học giả về nguồn gốc của Danh ấy. Dẫu vậy, phần lớn cho rằng Danh này có một mối liên hệ từ nguyên nào đó đối với dạng cổ của động từ hawah – “là, hiện hữu”. Nhà khảo cổ học Kinh Thánh nổi tiếng W. F. Albright (mất năm 1971) liên kết tên gọi này với thể sai khiến (causative form) và cho rằng nó chỉ là từ đầu tiên của toàn bộ tên gọi “yahweh-’aser-yihweh”, nghĩa là “Đấng làm cho vạn vật được hiện hữu”. Như vậy, Danh này biểu thị quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa. Một số khác lại dịch là “Ta là Đấng sẽ là”, qua đó hé lộ một Thiên Chúa đang hình thành, một Đấng kêu gọi chúng ta cùng cộng tác xây dựng tương lai.

Dù nguồn gốc chính xác ngôn ngữ thế nào, Danh “Yahweh” rõ ràng phân biệt Thiên Chúa của Israel với mọi thực thể khác được gọi bằng danh xưng thần linh (các thần khác, hay Elohim). Chỉ một mình  Yahweh  là Đấng Tạo Hóa, là Đấng Mạc khải, là Đấng điều khiển lịch sử và nhân loại, là Đấng phán xét và cứu độ. Quyền thống trị của Ngài bao trùm toàn cõi tạo thành. Duy mình Ngài là Thiên Chúa hằng sống (Gs 3,10; 1 Sm 17,26.36; 2 V 19,4.16; Tv 42,3; 84,3; Is 37,4.17; Gr 10,10; Hs 2,1). Chỉ Ngài ban sự sống (G 12,10; Đnl 32,39; 1 Sm 2,6; Tv 133,3). Ai tuân giữ lệnh truyền của Ngài thì được sống (Đnl 30,15–20). Con người sống nhờ lắng nghe lời Yahweh (Is 55,3; Ed 20,11.13.21).

Vì Cựu ước thuộc thời tiền Kitô giáo, nên nó không trình bày bất cứ hiểu biết nào về Ba Ngôi Thiên Chúa. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là cách hiểu về Thiên Chúa trong Cựu ước hoàn toàn mâu thuẫn với sự phát triển về Ba Ngôi sau này trong thời Kitô giáo. Thiên Chúa của Cựu ước là Đấng hằng sống, can thiệp sâu vào lịch sử dân Ngài, ban lời Ngài qua các ngôn sứ và “dấu chỉ thời đại” – lời ấy gắn chặt với nguồn gốc đến nỗi được gọi là “Lời của  Yahweh”. Dù  về mặt thần học không thể nói rằng Cựu ước đã có những dấu “báo trước” Thiên Chúa Ba Ngôi,  nhưng việc nhân cách hóa một số sức mạnh hay phương thức thần linh như Lời, Khôn Ngoan và Thần Khí của Thiên Chúa – tuy khác biệt với Thiên Chúa nhưng không chỉ đơn thuần là những thế lực trung gian giữa Thiên Chúa và thế gian, có lẽ là tiền đề cho sự hiểu biết của Kitô giáo về Thiên Chúa Ba Ngôi..

Tân ước

Độc thần giáo không chỉ là đặc trưng của Do Thái giáo, hay Kitô giáo. Điểm căn cốt của Kitô giáo chính là việc đồng nhất Thiên Chúa với Đức Giêsu thành Nadarét. Mạc khải về Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô không chỉ diễn ra trong những lời ngôn sứ của Người, như trường hợp các ngôn sứ Cựu ước. Đúng hơn, chính nơi con người của Đức Kitô mà Thiên Chúa được thông truyền.  Có một sự đồng nhất giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô.

Lời Tựa của Tin mừng Gioan cho thấy điều này một cách rõ ràng như bất cứ đoạn nào khác trong Tân ước:

“Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa…

Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” (Ga 1,6–12.14)

Thư gửi tín hữu Do Thái cũng mở đầu tương tự:

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa.” (Dt 1,1–3)

Như thế, nơi Đức Giêsu, thực tại của Thiên Chúa được biểu lộ cách hữu hình và cá vị. Tuy nhiên, Tân ước thường dùng tước hiệu Hy Lạp ho theos (“Thiên Chúa”) để chỉ Chúa Cha của Đức Giêsu Kitô, còn Đức Giêsu được gọi là Con Thiên Chúa. Dù vậy, đôi khi danh hiệu “Thiên Chúa” cũng được gán cho Đức Giêsu, chẳng hạn trong Ga 1,1 (“và Ngôi Lời là Thiên Chúa”) hay lời tuyên xưng của Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Ngoài ra, “vinh quang của Thiên Chúa cao cả và Đấng Cứu Độ chúng ta”  sắp xuất hiện không thể là vinh quang của ai khác ngoài Chúa Giêsu (Tt 2,13), và Chúa Giêsu tự đồng nhất mình với Chúa Cha (Ga 10,30).

Nơi Đức Kitô, không chỉ Ngôi Lời đã trở nên xác phàm, mà mọi thuộc tính cứu độ của  Yahweh trong Cựu ước đều được thực hiện: Thiên Chúa tha thứ trong Đức Kitô (Ep 4,32), hòa giải thế gian nhờ Người (2Cr 5,19), ban Thánh Thần qua Người (Ga 15,26; 16,7). Kitô hữu thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa (1Cr 3,23).

Thiên Chúa, Đấng hành động trong và qua Đức Giêsu Kitô cùng Chúa Thánh Thần, là một Thiên Chúa đầy lòng tha thứ (Mt 6,14; Mc 11,25; Lc 15,1–32), một Thiên Chúa nhân hậu (Lc 1,72.78; 6,36; 2Cr 1,3; Ep 2,4; 1Tm 1,2; Tt 3,5; 1Pr 1,3), một Thiên Chúa tốt lành (Mt 19,17; Lc 11,13; 18,19; Gc 1,5), một Thiên Chúa yêu thương (Ga 3,16; 16,27; Rm 5,5; 8,37.39; Ep 2,4; 2 Tx 2,16; Tt 3,4), một Thiên Chúa trung tín (1 Cr 1,9; 2Tx 3,3), một Thiên Chúa kiên nhẫn (Rm 15,5), là Thiên Chúa của mọi ân sủng (Cv 20,24; Rm 5,15; 1Cr 1,4; 3,10; 15,10; 2Cr 1,12; Ep 3,2.7), Thiên Chúa của niềm hy vọng (Rm 15,13), Thiên Chúa của bình an (Rm 15,33; 16,20; 1Cr 1,3; 2Cr 1,2; Gl 1,3; Ep 1,2; Pl 4,9), Thiên Chúa của niềm an ủi (Rm 15,5; 2Cr 1,3–4; 2Tx 2,16), Thiên Chúa của ơn cứu độ (Lc 1,47; 1Tm 1,1; 2,3; 4,10; Tt 2,11; 2Pr 3,9), một Thiên Chúa đầy lòng cảm thương, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ (Mt 18,14; 1Tm 2,3–4; 4,10; Tt 2,11; 2Pr 3,9).

Dù rõ ràng rằng giáo lý về Ba Ngôi không có trong Cựu ước, điều đó cũng không có nghĩa, theo kiểu loại trừ, rằng giáo lý Ba Ngôi được trình bày rõ ràng và dứt khoát trong Tân ước. Tân ước chỉ đơn giản nói về “Thiên Chúa,” chính là Thiên Chúa đã hành động trong Cựu ước: Thiên Chúa của Ápraham, Ixaác và Giacóp.  Các tác giả Tân ước thậm chí cũng không thường gọi Đức Giêsu là “Thiên Chúa” (ngoại trừ trong một vài trường hợp hiếm hoi, chẳng hạn như trong Tựa ngôn Tin mừng Gioan), vì như thế sẽ đồng hóa Đức Giêsu với Chúa Cha.

Mặt khác, Tân ước lại công nhận thần tính của Chúa Con. Khi Chúa Con xuất hiện như  là Đấng tiền hữu, Người thuộc về lãnh vực thần linh (Ga 1,1; Pl 2,6–11). Người chính là sự hiện diện của vương quốc (Mt 12,28; Lc 11,20), là Chủ của ngày sabát (Mc 2,23–28; 3,1–6), và là Đấng tràn đầy Thánh Thần (Lc 4,18).

Tuy nhiên, Tân ước không xác định rõ các thuật ngữ về tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con, cũng như giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tân ước chỉ cho thấy rằng có một tương quan nào đó giữa các Ngôi (Mt 11,27; Ga 1,1; 8,38; 10,38; 1Cr 2,10). Chúa Cha “sai” Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Ga 14,16.26; 17,3; Gl 4,6), và ban Thánh Thần qua Chúa Con (Ga 15,26; 16,7).

Nhiều bản văn khác nói rõ hơn về mối tương quan Cha-Con (chẳng hạn Mc 12,1-12; Ga 1,1.14; 2Cr 4,4; Dt 1,3). Tuy nhiên, không một đoạn nào, dù riêng lẻ, hay tất cả chúng gộp lại, trình bày một thần học Ba Ngôi theo nghĩa trọn vẹn. Những bản văn này chủ yếu nói đến tác động của Thiên Chúa trên Hội thánh, tức là hành động của Thiên Chúa trong thế giới, bên ngoài đời sống nội tại của chính Thiên Chúa,  tức là “Ba Ngôi nhiệm cục” (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần như được kinh nghiệm trong lịch sử cứu độ), trái với “Ba Ngôi nội tại” (tức là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong chính đời sống tương quan với nhau trong Thiên Chúa). Phải mất ba hoặc bốn trăm năm trước khi Giáo hội bắt đầu đưa ra những sự phân biệt đúng đắn, vượt ra ngoài những công thức trong Kinh Thánh và các tín điều, và nhận ra rằng “Ba Ngôi nhiệm cục” và “Ba Ngôi nội tại” là một và giống nhau, rằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta chính là Thiên Chúa.Thiên Chúa mà chúng ta kinh nghiệm như là Ba Ngôi chính thực là Ba Ngôi. Tuy nhiên, chúng ta không thể áp đặt ngược trở lại cho Tân ước – huống chi là Cựu ước – toàn bộ thần học và giáo lý về Ba Ngôi, vốn được hình thành dần dần và nhiều khi không đồng đều trong suốt hơn mười lăm thế kỷ.


Chủng sinh Phaolô Nguyễn Tiến Lợi chuyển ngữ từ
McBrien, Richard P. Catholicism. New York: HarperCollins Publishers, 1994

----------------

[1] Richard P. McBrien, Catholicism (New York: HarperCollins Publishers, 1994), 278-283.

CHÚC MỪNG VÀ CẦU NGUYỆN

Giuse Phan Thanh Liêm
Giuse Lê Văn Tín
Giuse Trần Quốc Hùng
Giuse Huỳnh Chí Khang
Giuse Nguyễn Mạnh Tường
Giuse Phạm Bảo Trường
Giuse Nguyễn Minh Trí
Giuse Võ Thái Thuận
Giuse Huỳnh Tấn Dũng
Giuse Nguyễn Mạnh Quân
Xem tất cả →