
Chúa Nhật đầu tháng Ba. Tiết trời se lạnh bởi những cơn mưa phùn. Tôi chợt muốn níu thời gian lại, để tận hưởng buổi sáng đầu tuần bên ly cà phê giản dị: không đá, không đường. Anh em chúng tôi quây quần bên nhau, kể lại những câu chuyện quen thuộc. Không có gì đặc biệt, vậy mà vẫn đủ làm mọi người bật cười. Những câu chuyện hằng ngày bình thường đến mức chúng tôi vẫn bảo nhau :“Có gì đâu, đời tu mà”. Chính những khoảnh khắc bình dị ấy lại mang lại hơi ấm ngọt ngào cho cuộc sống cộng đoàn. Thế nhưng, thời gian không chiều lòng người. Mới đó đã gần tám giờ kém, tôi dọn dẹp mọi thứ gọn gàng, gấp gáp quần áo chỉnh tề vì đến giờ đi thăm viếng các gia đình giáo dân cùng với các cô trong hội Legio Mariae Giáo xứ Chính Tòa. Thời gian tương quan với anh em mỗi sáng của tôi chỉ ngắn ngủi thế thôi, nhưng “năng nhặt chặt bị”, đủ để làm nên “thân bằng cố hữu”.
Tôi có mặt tại Giáo xứ Chính Tòa đúng 8 giờ. Cô Thủy đã đứng sẵn ở trước cổng Nhà thờ từ bao giờ. Cô niềm nở chào tôi bằng nụ cười thân thiện và nói: “Đọc kinh dâng cho Đức Mẹ rồi đi nha”, giọng cô nhẹ nhàng. Tôi biết mục đích của hội là thánh hóa hội viên bằng cầu nguyện và tích cực cộng tác với giáo quyền trong công cuộc tông đồ nhờ sự che chở, nâng đỡ của Mẹ Maria. Vì thế, nhờ Mẹ Maria, tôi có cơ hội đi đến với những gia đình đang gặp khó khăn, thiếu sự quan tâm, cần một sự hiện diện ấm áp. Tạ ơn Chúa vì tôi được may mắn cùng nhìn, cùng nghe, cùng thấu cảm và cùng chạm vào những “khoảng tối” trong hành trình đức tin của họ - và nhận ra mình không hề đơn độc, vì luôn có Mẹ đồng hành: “Nulla dies sine Maria” (Không ngày nào thiếu vắng Mẹ Maria).
Chúng tôi cố luồn lách, tiến sâu vào những con hẻm nhỏ cũng là lúc âm thanh ồn ào của phố thị dần lắng lại, nhường chỗ cho sự yên ắng của con hẻm ít tuổi mà trông già cấc. Trước mắt tôi là ngôi nhà ba tầng đã lấm lem vết bụi thời gian, hằn lên những loang lổ của sự khắt nghiệt do thời tiết. Những mảng tường bong tróc như những vết thương không ai buồn chữa lành. Những dây điện chằng chịt buộc néo tuổi thanh xuân, bóp nghẹt ánh nắng đang cố len lỏi vào nhà.
Cô Thủy cất giọng:“Có mấy Thầy ở Đại Chủng viện tới thăm gia đình mình nè”.
- Có tiếng vọng lại: “Dạ, xuống liền”.
Vài phút sau, xuất hiện một người phụ nữ với nụ cười đôn hậu, sự hiếu khách hiển hiện trên khuôn mặt, điểm xuyết thêm những vết chân chim, dường như ngót nghét lục tuần, khiến tôi chầm chậm gật đầu:
- “Dạ, con chào cô”.
- Cô đáp lại: “Chào mọi người, xin mời vào nhà”.
Tuy một căn nhà, nhưng tới ba hộ sinh sống. Tầng trệt chỉ dành để xe. Lên tầng hai, bước vào căn phòng đầu tiên là không gian sinh hoạt của hai mẹ con. Theo như chia sẻ, ngôi nhà chung này do ông bà hồi xưa xây để lại cho con cháu, ai cần thì đến ở sửa sang lại chút ít. Chúng tôi ngồi bên nhau trong không gian nhỏ hẹp khoảng 16m2, đồ đạc lỉnh kỉnh nhưng cũng xếp ngay ngắn, để chừa một chỗ trống có không gian sinh hoạt. Trên chiếc giường kê sát vách, người con gái vẫn đang ngủ vì làm việc khuya. Đêm qua chị làm về khuya nên sáng nay phải ngủ để lấy sức tiếp tục công việc vào giờ trưa. Nhìn cảnh ấy chúng tôi không nỡ ở lâu. Thế nên, chúng tôi cũng tế nhị đọc vài kinh rồi qua gia đình thứ hai.
Hành lang nhỏ được tận dụng làm căn bếp dã chiến, thêm mấy thùng xốp được gắn lên lan can để có nguồn rau sạch, mấy bông hoa sao nhái lắc lư trong gió như cũng muốn chào. Chúng tôi chợt nhớ đến câu “Venit hospis , venit Christus” (Khách đến là Đức Kitô đến). Liệu hôm nay chúng tôi có mang được chút hơi ấm của Chúa đến nơi này không?
Căn phòng kế bên là người chị của cô, một người phụ nữ lớn tuổi đang loay ha loay hoay, nhặt nhạnh những thùng giấy, xếp ngay ngắn ở góc nhà. Nghe thấy chúng tôi, cô quay lại chào hỏi.
- Cô nói:“ Tui nói thật với mấy Thầy đừng cho chê tui nghe. Có thời gian tui không đi lễ, bê tha lắm. Nhưng dạo gần đây, tui đi lễ trở lại. Mới xưng tội tuần trước nè. Tự nhiên cảm thấy vui vẻ và bình an trong lòng, nhưng mỗi lần đi mỗi lần khó, phải nhờ người ta chở. Trời mưa thì ở nhà đọc kinh lần chuỗi thôi”.
Có lẽ, sự trở về là nhịp điệu nhỏ bé nhưng bền bỉ có sức lôi cuốn lớn lao.
- Tôi đáp lời cô: “Dạ, mà con cô đâu hết rồi, sao cô không kêu chở đi lễ”.
Cô đáp lại tôi bằng một khoảng lặng. Con tim xốn xang, lửa lòng đã tắt, lệ lòng đã vơi, nay bỗng chốc bùng lên. Giọng cô run run, tiếng thút thít xen lẫn lời tỉ tê: “tui có mấy đứa con nhưng cũng… đã bỏ đạo lâu rồi, tha thiết cầu nguyện cho chúng nó hằng ngày”.
Tôi nghẹn lại, lòng trào dâng nhiều cảm xúc. Tôi ngồi đó. Lặng đi. Tôi thật sự muốn khuyên cô đôi điều, nhưng biết gì mà khuyên? Bởi vì tôi biết tất cả ngôn từ đều thừa thãi trong lúc này. Tôi thầm nghĩ, cứ khóc đi cô, vì chẳng ai nhọc công đi lau những giọt nước mắt hạnh phúc ấy cả. Những giọt nước mắt ấy minh chứng chân thật nhất, cho sự chân tình của một con chiên đã quay về bên Chúa.
“Cảm ơn Thầy đã mang Chúa đến” là câu nói của cô để chào tạm biệt chúng tôi, nhưng sâu ánh mắt ấy vẫn còn một nỗi niềm chưa thể gọi tên. Tôi bước ra, lòng nặng trĩu. Không phải vì buồn, nhưng vì tôi vừa được chạm vào một cảm xúc rất thật: nỗi khắc khoải tìm về Thiên Chúa vẫn âm thầm hiện diện nơi mỗi con người.
Chúng tôi di chuyển lên tầng ba, cũng một hoàn cảnh éo le nữa. Gia đình có hai anh em (ba mẹ đều đã mất vì bệnh tật), người anh đã đi làm, người em gái thì vẫn đang còn đi học, ba mẹ mất sớm nên hai anh em phải nương tựa vào nhau. Theo lời kể của cô Thủy, tôi được biết: ba có đạo - mẹ đạo theo, nhưng hai anh em vẫn chưa được rửa tội, người anh thì có vẻ không tha thiết gì việc theo đạo, còn cô em gái nói sẽ theo đạo sau khi học xong cấp 3, rồi vào Sài Gòn để bà Dì nuôi. Một lời hứa mong manh nhưng vẫn đủ để thắp lên chút niềm tin, niềm hy vọng giữa những khoảng tối cuộc đời. Chúng tôi cùng cầu nguyện cho cha mẹ của hai em, rồi lặng lẽ ra về. Thế là một buổi thăm viếng đã kết thúc để lại nhiều điều phải ngẫm.
Trên đường về lại Đại Chủng Viện, tôi mang theo những cảnh đời vừa gặp. Lòng chợt rung lên một cảm xúc khó tả. Đó là những vết thương lòng rất cần được chữa lành, những nỗi cô đơn rất cần được chạm đến, những ước mơ dang dở rất cần được hồi sinh, và những nỗi niềm u uẩn riêng tư rất cần được bộc bạch. Những người tôi gặp hôm nay, họ đang sống dưới chân những tòa nhà cao tầng lộng lẫy, nhưng ánh đèn rực rỡ của thành phố này chưa bao giờ chạm đến cuộc đời của họ. Tôi xin dâng hết cho Chúa, xin Chúa gìn giữ và chở che những“khoảng tối” dưới chân đèn. Giữa thành phố này vẫn còn quá nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, họ chọn sống nơi thành phố để mong cầu một cuộc sống tốt, nhưng những gì họ nhận được chỉ là sự vất vả. Chính guồng quay cuộc sống đã kéo họ rời xa Chúa, xa rời Giáo Hội, để rồi vô định, chẳng biết đường biết hướng về đâu. Thành phố này hoa lệ, nhưng“hoa” cho người giàu - “lệ” cho người nghèo.
Tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ, chịu ơn người, biết ơn đời. Chúa đã cho con được hiện hữu trên cõi đời này. Dâng lên Chúa lời tri ân thấm đẫm nước mắt, vì sự thiên vị quá lớn lao Chúa dành cho con: quá nhiều trong quá khứ, đầy tràn ở hiện tại, và dư dật trên cả chặng đường dài đằng đẵng đến tương lai. Tạ ơn Mẹ vì Mẹ luôn đồng hành cùng con trong những lần thăm viếng, cho con cùng Mẹ bước trên con đường hy vọng, để hiệp hành với những người anh chị em xung quanh. Nhờ đó lòng con thêm xác tín, trí con thêm trông cậy, và khơi dậy lòng bác ái yêu thương. Càng ra đi, con càng trân quý hơn những ngày tháng được mục vụ thăm viếng. Chỉ khi bước ra khỏi vùng an toàn của mình, con mới hiểu ơn gọi của mình không chỉ là học hành, đạo đức nhưng còn là những hẻm tối, những căn phòng chật chội, những phận đời cần được an ủi, những vết thương cần được chữa lành. Những “khoảng tối” dưới chân đèn hôm nay là cơ hội lớn lao cho những cuộc gặp gỡ đầy tính hiện sinh, để rồi trong đức tin con xác tín rằng“phận người từ trong tiếng khóc, một mai tình Ngài cho tiếng cười”.
_____________
Luy Lê Quốc Phong - Lớp Triết học I
Bài cảm nhận mục vụ Legio Mariae (Tháng 3/2026)