BỐN ĐẶC TÍNH CỦA MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH ĐÍCH THỰC
Charles Jason Gordon
Mỗi Chúa nhật, chúng ta đều đọc Kinh Tin Kính Nicea và tuyên xưng: “Tôi tin Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Chúng ta thường không dừng lại để có những suy gẫm sâu sắc về lời tuyên xưng này. Tuy nhiên, đây là bốn đặc tính mà Công đồng Constantinople I (năm 381) gán cho Giáo hội, từ đó dẫn đến Kinh Tin Kính mà chúng ta đọc ngày nay. Bốn đặc tính hay dấu hiệu/dấu chỉ/đặc điểm này như là điểm phân định, giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện của Giáo hội Chúa Giêsu Kitô. Bốn đặc tính này luôn hiện diện, dù không phải lúc nào cũng hiển nhiên rõ ràng, và chúng dành cho toàn thể Giáo hội thay vì từng thành viên riêng lẻ.
Trong thời gian khởi đầu Thượng Hội đồng Giám mục (THĐGM) về Hiệp hành, tôi đã có cuộc trò chuyện với Cha Agbonkhianmeghe E. Orobator, S.J., một nhà thần học châu Phi lỗi lạc, hiện là Giám học Trường Thần học Dòng Tên thuộc Đại học Santa Clara ở Berkeley, California. Trong cuộc thảo luận, Cha Orobator đã nói về những dấu hiệu của một Giáo hội hiệp hành xuất phát từ Tài liệu làm việc (Instrumentum laboris) của Thượng Hội đồng. Ý tưởng này đã khơi gợi trí tưởng tượng của tôi.
Hiện nay chúng ta đã có Văn kiện chung kết của Thượng Hội đồng nên tôi cho rằng việc xem xét văn kiện này thông qua bốn “đặc tính” là một cách làm cho Văn kiện chung kết dễ tiếp cận và dễ hiểu hơn.
Những “đặc tính” hay thuộc tính quan trọng nhất của một Giáo hội hiệp hành được nêu trong Văn kiện chung kết là gì?
Giáo hội sơ khai đã mất gần 400 năm để diễn đạt bốn đặc tính Giáo hội mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính Nicea. Có lẽ cũng cần thời gian để xác định những đặc tính có tính quyết định của một Giáo hội hiệp hành. Trong thời gian đó, chúng ta phải luôn chú ý và suy gẫm về chủ đề quan trọng này. Nếu tính hiệp hành thực sự là một chiều kích cấu thành Giáo hội (như đã nêu trong số 12 và 28 của Tài liệu làm việc), thì chúng ta nên kỳ vọng thấy được một số thuộc tính nhất định khi tính hiệp hành đạt đến độ chín muồi và thăng hoa.
Khi suy gẫm về Văn kiện chung kết của Thượng Hội đồng, tôi đề xuất bốn đặc điểm của một Giáo hội hiệp hành: tương quan (relating), lắng nghe (listening), phân định (discerning) và tự hạ/tự hủy (self-emptying).
Tương quan
Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội có tương quan. Tiêu đề phụ của Phần II trong Văn kiện chung kết “Sự hoán cải các mối tương quan” là một cụm từ mang ý nghĩa sâu sắc. Các tín hữu Công giáo trên toàn thế giới, tham gia vào quá trình lắng nghe hiệp hành năm 2022 và 2023, đã bày tỏ rõ ràng mong muốn có một Giáo hội với các mối tương quan. Báo cáo tổng hợp từ Khóa họp đầu tiên THĐGM về Hiệp hành năm 2023 nêu: “Tiến trình này đã làm mới trải nghiệm và mong muốn của chúng tôi về Giáo hội là nhà và gia đình của Thiên Chúa, một Giáo hội gần gũi hơn với cuộc sống của dân Ngài, bớt quan liêu và tăng cường mối tương quan”. Mong muốn này cũng được phản ánh trong Văn kiện chung kết (số 28).
Từ khát vọng về một Giáo hội có tính tương quan, các nghị phụ THĐ đã tái khám phá cội nguồn cổ xưa của Giáo hội. Văn kiện chung kết (số 34) nêu rõ: Một Giáo hội hiệp hành được đặc trưng như một không gian nơi các mối tương quan có thể phát triển, nhờ tình yêu thương lẫn nhau tạo nên “điều răn mới” mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ của Người (x. Ga 13,34-35).
Cốt lõi của tính tương quan là khái niệm về sự kết nối với nhau, phù hợp với các Thông điệp “Laudato Si’” và “Fratelli Tutti” của Đức Giáo hoàng Phanxicô về sinh thái toàn diện. Thuật ngữ “toàn diện” mô tả mạng lưới các mối tương quan nối kết giữa con người, tạo vật và Thiên Chúa. Khái niệm này, mặc dù thường bị bỏ qua, nhưng lại rất quan trọng đối với truyền thống của chúng ta. Văn kiện chung kết (số 50) kết nhấn mạnh:
Do đó, để trở thành một Giáo hội hiệp hành, chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mạc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần.
Nếu Giáo hội không có mối tương quan thì không thể có tính hiệp hành, và do đó, không thể trung thành với Chúa Kitô. Sự hoán cải các mối tương quan là điều thiết yếu.
Lắng nghe
Một Giáo hội hiệp hành là Giáo hội biết lắng nghe. Để mở lòng đón nhận sự hoán cải các mối tương quan, Giáo hội trước hết phải học cách lắng nghe -lắng nghe Lời Chúa và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, để hiểu được thánh ý Chúa. Văn kiện chung kết nêu rằng: “Tiến trình Thượng Hội đồng đã canh tân nhận thức rằng việc lắng nghe là một phần thiết yếu trong mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội” (78). Quan trọng hơn, việc lắng nghe mở đường cho sự hoán cải (51).
Văn kiện đưa ra những chiều kích khác nhau của việc lắng nghe: dân Chúa (3), Tin mừng (5), người nghèo (8), Lời Chúa (27), và Chúa Thánh Thần (31).
Đức Phanxicô đã nói với các đại biểu THĐ vào ngày 26.10.2024 như sau: “Tôi thường tự nhắc nhở mình, và cũng nhắc nhở anh chị em rằng ngay cả Giám mục Rôma cũng cần thực hành lắng nghe; thực vậy, ngài muốn lắng nghe, để đáp lại Lời Chúa, Đấng mỗi ngày nhắn nhủ ngài: “Hãy củng cố anh em ngươi... Hãy chăn dắt chiên của Thầy”.
Trong một Giáo hội hiệp hành, việc lắng nghe không mang tính thụ động; đó là một hoạt động mang tính tương quan sâu sắc và gắn kết chặt chẽ với việc phân định. Văn kiện chung kết THĐ trình bày Mẹ Maria như một mẫu gương của kiểu lắng nghe này:
Nơi Đức Trinh Nữ Maria, Thân mẫu của Chúa Kitô, là Mẹ của Giáo hội và của nhân loại, chúng ta thấy những đặc điểm của một Giáo hội hiệp hành, truyền giáo và thương xót được tỏa sáng trọn vẹn. Quả thực, Mẹ là hình ảnh của Giáo hội lắng nghe, cầu nguyện, suy niệm, đối thoại, đồng hành, phân định, quyết định và hành động. Chúng ta học được từ nơi Mẹ nghệ thuật lắng nghe, sự chú tâm tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, sự vâng phục Lời Ngài, khả năng nắm hiểu nhu cầu của người nghèo, lòng can đảm lên đường, tình yêu vươn ra để giúp đỡ những người túng thiếu, bài ca ngợi khen và niềm hân hoan trong Thánh Thần.
Ở đây, việc lắng nghe là một phần trong một tiến trình liên tục dẫn đến sự tỉnh thức trước thánh ý Chúa và tinh thần môn đệ tích cực.
Phân định
Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội biết phân định. Tính tương quan và sự lắng nghe là những tiền đề cho tính hiệp hành, nhưng phân định mới chính là cốt lõi tâm linh và thực hành thường nhật của tiến trình này. Điều đó đòi hỏi sự khiêm nhường, sự cởi mở đối với Thánh Thần và sự cam kết hoán cải không ngừng. Phân định chính là trục xoay mà qua đó, một Giáo hội hiệp hành tìm ra những “con đường sứ vụ”(79). Văn kiện nói rằng: “Sự phân định của Giáo hội vừa là điều kiện vừa là sự diễn tả ưu tiên của tính hiệp hành, trong đó sự hiệp thông, sứ vụ và sự tham gia cùng được tỏ bày” (82).
Sự phân định bao hàm ba thực hành liên kết mật thiết với nhau: sự phân định mang chiều kích Giáo hội, các tiến trình đưa ra quyết định, và nền văn hóa của tính minh bạch, việc giải trình và lượng giá (11). Tiến trình này phải được thực hiện trong tinh thần minh bạch, dưới sự hướng dẫn của các nguyên tắc Tin mừng (95). Sự phân định được chuẩn nhận thông qua các vị lãnh đạo và, sau cùng, bởi chính Thiên Chúa cùng toàn thể dân Chúa qua sự phong phú của sứ vụ.
Sự phân định là động lực nội tại của tính hiệp hành và được nhìn nhận như con đường dẫn tới việc canh tân Giáo hội. Văn kiện chung kết ghi rằng “Việc canh tân cộng đoàn Kitô hữu chỉ có thể thực hiện được khi nhìn nhận tầm quan trọng hàng đầu của ân sủng” và thêm rằng: “Theo nghĩa này, viễn tượng hiệp hành, trong khi dựa vào di sản tâm linh phong phú của Truyền thống, sẽ góp phần canh tân các phương thức của nó như: một lời cầu nguyện mở ra cho sự tham gia, một sự phân định được thực hiện cùng với nhau, một năng lực truyền giáo có được từ việc chia sẻ và tỏa sáng trong sự phục vụ” (44).
Sự phân định cũng biến cộng đoàn thành một gia đình thiêng liêng tựa nương vào Chúa để thi hành sứ mệnh của mình. Sự phân định như vậy “đòi hỏi sự đóng góp của mọi người” vì nó “vừa là điều kiện vừa là sự diễn tả ưu tiên của tính hiệp hành” (82). Sống như một cộng đoàn biết phân định đòi hỏi “việc không ngừng bồi dưỡng và đào tạo lương tâm, cũng như sự trưởng thành của cảm thức đức tin, để không bỏ qua bất kỳ nơi nào mà Thiên Chúa lên tiếng” (83).
Vì việc phân định trong Giáo hội đòi hỏi sự đóng góp của mọi người, nên nó vừa là điều kiện vừa là sự diễn tả ưu tiên của tính hiệp hành.
Động lực nội tại của việc phân định thúc đẩy sự phát triển trong đức tin, đức cậy và đức mến, hình thành Giáo hội như một cộng đoàn hoà hợp sâu sắc với Thiên Chúa. Văn kiện kêu gọi việc biến đổi các tổ chức có tính công nghị được thiết lập bởi Công đồng Vatican II và theo Giáo luật, như công nghị giáo phận, hội đồng linh mục, hội đồng mục vụ giáo phận và hội đồng mục vụ giáo xứ, thành các cộng đoàn biết phân định (103). Khi các tổ chức này được biến đổi thành các cộng đoàn biết phân định, chúng sẽ đưa Giáo hội địa phương hướng tới “việc loan báo Tin mừng đã được hội nhập văn hóa, cho sứ vụ của cộng đoàn trong môi trường của nó và cho chứng tá của những người đã được rửa tội” (103).
Sự phân định cộng đoàn thậm chí còn mở rộng đến đại kết. Văn kiện đề xuất việc bao gồm các vị đại diện thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Kitô giáo khác trong tiến trình phân định (106). Nó cũng phác thảo sáu bước để phân định cộng đoàn (84), mà các nhà lãnh đạo nên suy gẫm trong cầu nguyện. Cách tiếp cận này không nhằm hướng tới một mô hình dân chủ hay theo ý kiến đa số, nhưng về việc hình thành một cộng đoàn phân định trong khi vẫn tôn trọng phẩm trật của Giáo hội. Văn kiện ghi rằng: “Trong một Giáo hội hiệp hành, thẩm quyền đưa ra quyết định của giám mục, giám mục đoàn và Giám mục Rôma là bất khả xâm phạm, bởi vì nó xuất phát từ cơ cấu phẩm trật của Giáo hội do Đức Kitô thiết lập, để phục vụ sự hiệp nhất và tôn trọng sự đa dạng hợp pháp (x. LG 13). Tuy nhiên, thẩm quyền này không phải là vô điều kiện: không thể bỏ qua một định hướng nảy sinh trong quá trình thỉnh ý như là kết quả của sự phân định đúng đắn, đặc biệt nếu được thực hiện bởi các tổ chức tham gia” (92).
Một nền văn hoá mới phải bén rễ nơi các chủng viện và các cơ sở đào tạo. Việc “đào tạo các ứng viên lãnh nhận thừa tác vụ chức thánh cần được thực hiện theo phương cách hiệp hành. Điều này đòi hỏi: một sự hiện diện đáng kể của phụ nữ, một sự hòa nhập vào đời sống thường nhật của các cộng đoàn, cũng như việc đào tạo để có thể hợp tác với mọi thành phần trong Giáo hội” (148).
Sứ vụ là mục đích tối hậu của tính tương quan, lắng nghe và phân định.
Tự hạ
Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội khiêm nhường và tự hạ theo khuôn mẫu trong Thư gửi tín hữu Philip: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu: Người tuy vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (2,5-7). Điều này đòi hỏi một sự hoán cải sâu sắc và sự biến đổi nên giống Đức Kitô.
Để thấu hiểu đặc tính này của Giáo hội hiệp hành, chúng ta phải suy tư về tiến trình hiệp hành trong ba năm qua. Đức Thánh cha Phanxicô đã nêu gương về sự tự hạ bằng việc không tập trung quyền bính (decentralizing authority) để lôi kéo sự tham gia của toàn thể dân Chúa trong Giáo hội. Trong diễn văn bế mạc Thượng Hội đồng về Hiệp hành, ngài đã khẳng định:
[...] Tôi không có ý định ban hành một “Tông huấn”: Những gì chúng ta đã phê chuẩn là đủ. Văn kiện này đã chứa đựng những định hướng rất căn bản có thể hướng dẫn sứ vụ của các Giáo hội tại các châu lục khác nhau và trong những bối cảnh cụ thể. Vì thế, tôi lập tức trao nó cho tất cả mọi người; vì thế, tôi đã yêu cầu cho công bố tài liệu này. Bằng cách này, tôi muốn nhìn nhận giá trị của hành trình Thượng Hội đồng mà chúng ta đã cùng nhau thực hiện, và qua văn kiện này, tôi ủy thác nó cho toàn thể Dân thánh của Thiên Chúa.
Bằng cách không ban hành Tông huấn hậu Thượng Hội đồng như thường lệ, Đức Thánh cha Phanxicô đã nêu gương về một hình thức lãnh đạo mới, mời gọi những người khác cũng làm như vậy. Văn kiện chung kết, được phê chuẩn qua cuộc bỏ phiếu của 356 đại biểu, trở thành một phần của Huấn quyền thông thường của Giám mục Rôma. Đây là một sự kiện mang tính lịch sử và là mẫu mực cho tất cả các nhà lãnh đạo trong Giáo hội hiệp hành. Văn kiện chung kết viết rằng: “Tính hiệp hành phải được thể hiện trong cách sống và hành động (modus vivendi et operandi) hằng ngày của Giáo hội. Cách sống và hành động này được thực thi qua việc cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và cử hành Bí tích Thánh Thể, qua tình huynh đệ hiệp thông, cũng như qua tinh thần đồng trách nhiệm và sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa vào đời sống và sứ vụ của Giáo hội ở mọi cấp độ và trong sự phân biệt giữa các thừa tác vụ và các vai trò khác nhau” (30)
Trong tháng này, tôi có được một hiểu biết then chốt từ cuộc thảo luận với Đức Thượng phụ Job, một đại biểu huynh đệ của THĐ, về số 137 của Văn kiện chung kết, trong đó nêu rõ: “Thượng Hội đồng hoan nghênh việc Bộ Cổ võ Sự Hiệp nhất các Kitô hữu vừa công bố tài liệu ‘Giám mục Rôma: Quyền tối thượng và tính hiệp hành trong các cuộc đối thoại đại kết và trong những phản hồi đối với Thông điệp Ut Unum Sint’. Tài liệu này mở ra những hướng nghiên cứu sâu xa hơn”. Đức Thượng phụ Job đã mô tả tài liệu đó là một bước đột phá mang tính cách mạng cho cuộc đối thoại đại kết. Tài liệu này khẳng định rằng: “Quyền bính liên kết chặt chẽ không thể tách rời với mầu nhiệm thập giá và sự tự hủy (kenosis) của Đức Kitô…. Quyền bính trong Giáo hội phải được hiểu là ‘sự phục vụ dân Chúa dựa trên quyền năng của Thập giá’…. Theo nghĩa này, việc thực thi quyền bính phải được rập khuôn theo gương mẫu tự hủy của Đức Kitô, ‘như một sự phục vụ bao hàm cả sự sẵn lòng thực hiện tự hạ (self-renunciation)” (42).
Tính hiệp hành mời gọi sự biến đổi, đòi hỏi chúng ta phải tạo không gian cho tha nhân trong đời sống, trong các quy trình ra quyết định và trong sứ vụ của Giáo hội. Từ thời Hoàng đế Constantinô trở đi, Giáo hội đã luôn phải nỗ lực vật lộn với việc thực hành sự tự hạ (self-emptying). Trải qua 40 năm đối thoại đại kết, tính hiệp hành đã trỗi dậy, với việc Đức Giáo hoàng thực hành sự tự hạ và đón nhận vai trò của mình là Giám mục Rôma để dẫn dắt chúng ta tiến về phía trước. Như Văn kiện chung kết ghi: “Tiến trình Thượng Hội đồng cũng đã xem xét lại các phương thức mà Giám mục Rôma thực thi thừa tác vụ của mình. Tính hiệp hành cho phép các khía cạnh tập thể (“tất cả”), hiệp đoàn (“một số”), và cá nhân (“một”) của các Giáo hội địa phương và của toàn thể Giáo hội, liên kết và thống nhất chúng với nhau. Dưới ánh sáng này, thừa tác vụ Phêrô gắn liền với động lực hiệp hành, cũng như gắn liền với chiều kích cộng đoàn liên quan đến toàn thể Dân Thiên Chúa, và chiều kích hiệp đoàn của thừa tác vụ giám mục” (130).
Văn kiện nhấn mạnh thêm về nhu cầu thực hiện việc phân quyền hợp lý nhằm hỗ trợ quá trình hội nhập văn hóa và đưa ra các quyết định kịp thời, trong khi vẫn duy trì sự hiệp nhất về đức tin và luân lý.
Cùng nhau tiến bước
Văn kiện chung kết chứa đựng những chiều kích phong phú đáng được tiếp tục đào sâu, và có thể sẽ phải mất nhiều năm để Giáo hội có thể hiện thực hóa trọn vẹn lời mời gọi này. Trước mắt, chúng ta cần tập trung vào bốn “đặc điểm” cốt yếu của tính hiệp hành: tương quan, lắng nghe, phân định và tự hạ. Việc luôn ghi nhớ những đặc tính này sẽ đảm bảo chúng ta luôn đi đúng lộ trình.
Mỗi đặc tính là một lời mời gọi hoán cải và dấn thân cho sứ vụ. Linh đạo này đan xen xuyên suốt từng phần của Văn kiện, mời gọi một sự biến đổi không ngừng. Tính hiệp hành dẫn đưa đến sứ vụ thông qua sự thay đổi tâm linh sâu sắc hay còn gọi là Kitô hóa (Christification) — một tiến trình mà ở đó các môn đệ được kết hiệp với Thiên Chúa và được biến đổi nên giống hình ảnh Chúa Kitô (2Cr 3,18). Chúng ta hành động như chính Chúa Kitô sẽ hành động. Tiến trình hoán cải cũng thanh luyện chính sứ vụ đó. Ân sủng này mời gọi toàn thể dân Chúa bước vào sự hiệp thông huyền nhiệm với Ba Ngôi Thiên Chúa, trở thành sự nối dài của Thiên Chúa trong thế giới này trong khi vẫn giữ mối liên kết mật thiết với Ngài. Sự hoán cải và tính phong phú của sứ vụ luôn đan quyện chặt chẽ với bốn đặc tính này.
Các cấp độ cầu nguyện của Thánh Têrêsa Avila thường được diễn giải thông qua phép loại suy về việc tưới mát một khu vườn. Ở giai đoạn thứ nhất, nước được vất vả múc lên từ giếng sâu, đòi hỏi nhiều nỗ lực nhưng mang lại thành quả khi khu vườn dần trở nên xanh tươi. Giai đoạn thứ hai trở nên dễ dàng hơn: nước được bơm và phân phối, biểu trưng cho một mối tương quan sâu sắc hơn với Thiên Chúa. Giai đoạn thứ ba, nước như một dòng suối chảy, giúp công việc của người làm vườn trở nên nhẹ nhàng hơn, diễn tả một đời sống cầu nguyện tự nhiên và có kết quả hơn. Cuối cùng, ở giai đoạn thứ tư, khu vườn phát triển mạnh mẽ mà không cần tốn nhiều công sức vì nhờ mưa, tượng trưng cho một linh hồn hoàn toàn hòa hợp với Thiên Chúa.
Chúng ta bắt đầu với tính tương quan, vốn đòi hỏi cả nỗ lực có ý thức lẫn ân sủng. Điều này phải dẫn đến sự lắng nghe sâu sắc - là việc hòa nhịp bản thân với Thiên Chúa, với tha nhân và với cộng đoàn của chúng ta. Sự hoán cải thông qua lắng nghe đến từ ân sủng tuôn đổ vào lòng chúng ta, dẫn đưa chúng ta hướng tới việc xem sự phân định như một lối sống và phương cách quản trị gia đình, các thừa tác vụ và Giáo hội. Sự phân định mời gọi chúng ta uốn nắn ý muốn của mình theo thánh ý Chúa, chuẩn bị cho chúng ta bước vào tiến trình tự hạ. Sự tự hạ này là món quà quý giá nhất của tính hiệp hành, đòi hỏi sự khiêm nhường sâu thẳm và tinh thần phục vụ.
Mỗi đặc tính mang đến một cơ hội biến đổi và thanh luyện sứ vụ. Chúng cùng đóng vai trò như một động lực nội tại nơi tâm hồn của Kitô hữu và trong cấu trúc của Giáo hội, thúc đẩy tiến trình Kitô hóa các tín hữu và hiện thực hóa tầm nhìn của Công đồng Vatican II về ơn gọi nên thánh phổ quát, cũng như lời kêu gọi của Đại hội Aparecida về những môn đệ thừa sai. Văn kiện nhấn mạnh nhu cầu về một cộng đoàn Kitô hữu cam kết theo đuổi việc đào tạo trường kỳ và toàn diện (140-151), biến tính hiệp hành trở thành một lời mời gọi đổi mới tâm linh sâu sắc, dẫn đến tư cách môn đệ thừa sai và xây dựng Giáo hội thành một cộng đoàn truyền giáo.
Chúng ta cần nhìn nhận việc huấn giáo thông qua bốn đặc tính của tính hiệp hành: một nền giáo lý mang tính tương quan, biết lắng nghe, phân định và tự hạ. Điều này cũng cần định hướng cho công tác mục vụ và các quy trình ra quyết định trong Giáo hội ngày nay. Toàn bộ đời sống mục vụ phải mang tính tương quan, lắng nghe, phân định và tự hạ. Các hội đồng mục vụ giáo xứ, hội đồng kinh tế và tất cả các cơ cấu hiệp hành của chúng ta phải hiện thực hóa những đặc tính này. Việc đào tạo tại chủng viện và mọi chương trình huấn luyện cũng cần thẩm thấu sâu sắc những đặc tính này. Liệu chúng ta có thể tái hình dung Giáo hội thông qua bốn đặc tính này không?
Hãy xem câu chuyện về làng Emmaus như một mẫu thức của tiến trình hướng tới một Giáo hội hiệp hành: Hai môn đệ cùng bước đi trên đường (tự thân điều này đã là một ‘công nghị’ - synod). Họ đang trốn chạy khỏi sứ vụ tại Giêrusalem trong nỗi chán chường và tuyệt vọng. Chúa Giêsu tiến đến gần bên họ, bắt đầu từ chính hoàn cảnh của họ và thiết lập mối tương quan với họ. Ngài lắng nghe họ một cách sâu sắc và đáp lại những nỗi âu lo cũng như quan tâm của họ. Ngài làm triển nở mối tương quan ấy qua việc bẻ bánh với họ. Và rồi, họ trở thành một cộng đoàn biết phân định.
Họ rũ bỏ những sợ hãi, các dự định cá nhân và ý riêng để uốn mình theo thánh ý Chúa - họ quay trở lại Giêrusalem, chính sự tự hạ đã dẫn lối cho sứ vụ.
Câu chuyện Tin mừng này dẫn dắt chúng ta đi qua bốn đặc tính của một Giáo hội hiệp hành. Mỗi cuộc gặp gỡ với Đức Kitô đều thúc đẩy chúng ta tiến tới việc thiết lập tương quan, lắng nghe, phân định và tự hạ, để cuối cùng dẫn đến sứ vụ.
Lm. G.B. Ngô Đình Tiến chuyển ngữ từ Comboni2000.org