Tin Lý

Cuộc tranh luận về vấn đề Filioque

2373   2023-12-09 20:44:25

CUỘC TRANH LUẬN VỀ VẤN ĐỀ FILIOQUE

 

Anne Hunt, Trinity: Nexus of the Mysteries of Christian Faith (Maryknoll, NY: Orbis Books, 2005), 231-234.

Chủng sinh Giacôbê Nguyễn Tiến Lộc chuyển ngữ.

 

 

Tranh cãi về Filioque nhắc đến cuộc tranh luận bi thương dai dẳng về vấn đề nhiệm xuất của Chúa Thánh Thần. Từ đó dẫn đến cuộc Đại ly giáo vào thế kỷ XI, phân ly Kitô giáo Đông phương với Tây phương, giữa Giáo hội Rôma với các Giáo hội Chính thống giáo[1], sự chia rẽ này vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày nay, khiến các Kitô hữu trên toàn thế giới phải đau buồn.

Công đồng Constantinople (381), được cả Đông phương và Tây phương công nhận là công đồng đại kết của Giáo hội, đã long trọng tuyên xưng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha. Tuy nhiên, Giáo hội Tây phương đã đơn phương thêm vào Kinh Tin kính một cụm từ tuyên bố rằng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque). Mặc dù cuộc ly giáo thường được xác định vào năm 1054, nhưng chia rẽ chỉ là đỉnh điểm của một sự xa cách dần dần từ các thế kỷ trước và thực sự không thể xác định thời điểm một cách chính xác như vậy. Bi kịch là vấn đề nhiệm xuất của Chúa Thánh Thần, Đấng mà mọi Kitô hữu đều tôn kính như ngôi vị thần linh của hợp nhất và yêu thương, lại trở thành tâm điểm chia rẽ và bút chiến trong Giáo hội Kitô giáo.

Một số tác giả hiện đại vẫn duy trì sự phân biệt quá rạch ròi và đơn giản của Théodore de Régnon giữa các kiểu thần học Ba ngôi của Đông và Tây phương, liên quan cách tiếp cận duy bản thể của Tây phương (essentialism) và duy ngôi vị của Đông phương (personalism), theo đó thần học Ba ngôi Đông phương được cho là khởi đi từ sự đa dạng của các ngôi vị, trong khi Tây phương, kể từ thánh Augustinô, khởi đi từ bản tính thần linh duy nhất[2]. Nhưng quan điểm học thuật có ảnh hưởng hiện nay cho thấy rằng các khác biệt giữa Tây phương Latinh và Đông phương Hy Lạp đã bị phóng đại quá mức theo cách này, và sự đa dạng đáng kể trong mỗi truyền thống đã bị đánh giá thấp cách nghiêm trọng. Tuy nhiên, một vài sự phân biệt thực sự dần xuất hiện do hoàn cảnh phát triển khác nhau của Giáo hội ở Đông phương và Tây phương. Sự thống nhất về chính trị mất đi vào cuối thế kỷ III với việc phân chia đế quốc Rôma thành Đông và Tây, mỗi bên dưới quyền hoàng đế riêng, và việc thiết lập thủ đô thứ hai tại Constantinople vào thế kỷ IV chắc chắn khiến hai Giáo hội Đông phương và Tây phương dần chia cách hơn, cũng như khoét sâu thêm khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và quan điểm về giáo hội giữa đôi bên. Giáo hội ở Đông phương, nơi quyền bính chính trị được mạnh mẽ trao cho hoàng đế, về cơ bản được hưởng một quyền lực thiêng liêng, thể hiện qua việc các giám mục hành động trong tính hiệp đoàn (collegially), một thực hành dựa trên lối hiểu về sự bình đẳng của các giám mục trong truyền thống tông đồ. Mặt khác, Giáo hội Tây phương, do thiếu vắng quyền lực chính trị tại chỗ đã đảm nhận một quyền bính mà Đông phương chưa từng biết đến. Hơn nữa, không giống như các Giáo hội Constantinople, Antioch, Alexandria và Jerusalem ở Đông phương, Giáo hội Rôma thực thi quyền tài phán trên một lãnh địa rộng lớn và có khuynh hướng giải thích cũng như thể hiện quyền bính theo những thuật ngữ phổ quát hơn và ít mang tính hiệp đoàn hơn.

Filioque đã được thêm vào Kinh Tin kính ở Tây phương để chống lại lạc thuyết Ariô đang tái xuất khắp Tây Ban Nha vào thế kỷ V, cũng như để khẳng định Chúa Con và Chúa Cha bằng nhau [đồng bản thể]. Việc thêm vào như vậy là vấn đề Kitô học lẫn Ba ngôi. Về mặt thần học, hành động này được biện dẫn bằng thần học Ba ngôi của thánh Augustinô và thánh Hilariô thành Poitiers. Tuy nhiên, sự kiện thêm filioque cho thấy nó có tác động quan trọng. Việc sử dụng cụm từ này dần lan rộng ở Tây phương. Công đồng Tôlêđô III (589) tuyên xưng Chúa Thánh Thần nhiệm xuất từ Cha và Con (double procession) và ra vạ tuyệt thông nghiêm ngặt cho bất cứ ai phủ nhận. Từ đó, Kinh Tin kính có cụm từ filioque đã đi vào phụng vụ Thánh thể Latinh.

Căng thẳng giữa Đông và Tây gia tăng vào thế kỷ VII. Các cuộc tấn công dữ dội của Hồi giáo ở Đông phương đã dẫn đến việc củng cố quyền lực của Toà Constantinople và quyền bính vị Thượng phụ Constantinople trên những thượng phụ các giáo hội chị em ở Đông phương. Trong khi đó, ở Tây phương, việc cai quản Giáo hội trong vương quốc do giáo hoàng đứng đầu (papal monarchy) đang thành hình. Cuộc tranh cãi về nạn bài trừ ảnh tượng ở Đông phương đã làm tình hình trở nên trầm trọng hơn[3]. Ở Tây phương, hoàng đế Charlemagne (768-814) nhiệt thành theo đuổi nguyên tắc filioque và đưa Kinh Tin kính có thêm filioque khi cử hành thánh lễ ở nhà nguyện hoàng gia cũng như trên khắp lãnh thổ người Frank (Imperium Francorum). Việc sử dụng Kinh Tin kính có thêm cụm từ filioque tiếp tục lan rộng khắp Giáo hội Tây phương, ngoại trừ Rôma. Tại Rôma, giáo hoàng, trong khi không phủ nhận tính chính thống của filioque, đã chống lại việc thêm cụm từ này vào Kinh Tin kính và thực sự chống lại việc đọc Kinh Tin kính này trong Thánh lễ[4]. Vẫn chưa rõ chính xác khi nào filioque được đưa vào bản Kinh Tin kính đọc tại Rôma. Truyền thống kể rằng việc thêm filioque cuối cùng đã được đón nhận ở Rôma vào năm 1014, khi được Đức Giáo hoàng Bênêđictô VIII (1012-1024) sử dụng trong thánh lễ đăng quang của hoàng đế Henry II. Tuy nhiên, một khi được Rôma  chấp nhận, Kinh Tin kính với filioque đã trở thành quy chuẩn trong toàn Giáo hội Tây phương, việc sử dụng Kinh Tin kính này giờ đây được biện minh bằng quyền tối thượng của giáo hoàng. Từ đó, filioque trở thành một vấn đề giáo thuyết cực kỳ nghiêm trọng giữa Constantinople và Rôma.

Với cách nhìn Đông phương thì việc thêm filioque là vô cùng xúc phạm. Thứ nhất, việc thêm vào Kinh Tin kính đã được công đồng đại kết ban hành là bất hợp pháp[5]. Thứ hai, nhưng không kém phần quan trọng, việc thêm filioque là sai lầm về thần học. Khái niệm về nhiệm xuất kép đã phạm đến giáo thuyết Chúa Cha là nguyên nhân duy nhất của Ba ngôi, như là nguyên uỷ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Theo truyền thống Chính thống giáo, ngay từ trước thời của thánh Gioan Đamascô[6], thì Chúa Cha là cội nguồn độc nhất trong Ba ngôi. Nhiều người ở Đông phương sẽ thừa nhận công thức [Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha] thông qua Chúa Con, per filium, chứ không phải [từ Chúa Cha] và Chúa Con, filioque. Khẳng định quyền tối thượng ở Tây phương cùng với các cuộc Thập tự chinh càng làm trầm trọng thêm căng thẳng, và với việc cướp phá Constantinople trong lần Thập tự chinh IV, thì chia rẽ Đông Tây không thể vãn hồi.

Tây phương Latinh đã không thỏa hiệp. Công đồng Latêranô IV năm 1215 long trọng công bố việc nhiệm xuất kép của Chúa Thánh Thần, dạy rằng “Chúa Thánh Thần từ đời đời phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, không phải từ hai nguyên lý mà từ một nguyên lý, không phải bởi hai nhiệm xuy (spiration) nhưng chỉ là một[7]. Công đồng còn ra án vạ tuyệt thông: “Chúng tôi kết án và chê trách tất cả những ai cả gan dám phủ nhận rằng Thánh Thần đời đời phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, hoặc thậm chí táo tợn đi đến chỗ khẳng định rằng Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con như từ hai chứ không phải từ một nguyên lý duy nhất[8]. Định tín về filioque được tái xác nhận giữa lúc Đông phương và Tây phương đang nỗ lực tái lập hợp nhất tại Công đồng chung Lyon II năm 1274[9]. Quyền tối thượng của giáo hoàng cũng được khẳng định tại Công đồng này[10]. Tuy nhiên, cũng không lạ gì khi việc hợp nhất đã không được thực hiện vì việc tái hợp nhất thực chất đòi hỏi phải tùng phục Huấn quyền Rôma. Rôma coi Công đồng Lyon II là đại kết, nhưng các đại diện Giáo hội Đông phương, sau khi đã chấp thuận công thức filioque tại Công đồng, lại hủy bỏ quyết định trên đường trở về Constantinople.

Với việc thành phố Byzantium gánh chịu áp lực mới từ người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, một cuộc tái hợp nhất khác - hoặc ít nhất là hòa giải với Tây phương vì lợi ích chính trị và viện trợ quân sự - đã được cố gắng thực hiện tại Công đồng Ferrara-Florence vào những năm 1438-1439. Tuy nhiên, cuộc đối thoại đích thực đã hoàn toàn tan vỡ và vấn đề filioque vẫn chưa được giải quyết. Công đồng Ferrara-Florence tái xác định giáo lý về nhiệm xuất kép của Chúa Thánh Thần [từ Chúa Cha và Chúa Con], và hơn nữa, khẳng định tính hợp pháp của việc đặt thêm filioque là để làm sáng tỏ Kinh Tin kính[11]. Cuộc chinh phục của đế chế Ottoman diễn ra sau đó vào năm 1453. Đối thoại chấm dứt, và với sự diệt vong của đế quốc phía Đông thì hy vọng tái hợp nhất cũng tiêu tan. Việc Đông phương phản đối filioque và quyền tối thượng của giáo hoàng vẫn tiếp tục không suy giảm. Trong khi đó, Giáo hội Tây phương sẽ sớm phải đối mặt với trận hồng thủy của cuộc Cải cách Tin Lành.

Lịch sử cuộc tranh cãi về filioque là một lịch sử đáng buồn và đáng tiếc do hiểu lầm giữa đôi bên. Trong khi filioque xuất hiện ở Tây phương vì lý do Kitô học cũng như Ba ngôi, nó lại tạo thành một vấn đề giáo hội học hệ trọng ở Đông phương. Cuộc tranh cãi hầu như là một vấn đề giáo hội học và thẩm quyền giáo hội cũng như thần học. Từ đầu đến cuối, chân lý và sự chuẩn xác khi nói rằng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con đã bị lẫn lộn với vấn đề tính hợp pháp của việc thêm phần filioque vào Kinh Tin kính. Như John Meyendorff nhận xét: “Những khó khăn do lịch sử tạo ra hẳn đã được giải quyết nếu có một tiêu chuẩn giáo hội học chung để dàn xếp các vấn đề thần học, giáo luật hoặc phụng vụ khiến Đông phương và Tây phương xa cách nhau. Nhưng sự phát triển của quyền giáo hoàng thời Trung cổ như nguồn tham chiếu tối hậu cho các vấn đề giáo lý lại hoàn toàn trái ngược với cách quan niệm đang thịnh hành về Giáo hội ở Đông phương[12].

Hiện có nhiều ý kiến ​​khác nhau về tình hình này. Một số người ở Tây phương đề nghị loại bỏ filioque khỏi Kinh Tin kính (như đã xảy ra tại Hội nghị Lambeth của Cộng đồng Anh giáo năm 1978[13]) và trở về với Tín biểu Nicea-Constantinople nguyên thuỷ. Một số khác cho thấy bản chất các giáo huấn của Đông phương và Tây phương về nhiệm xuất (per filium, qua Chúa Con, hay filioque, và Chúa Con) trên thực tế là những quan điểm khác nhau về một thực tại thiêng liêng duy nhất và về cơ bản giống hệt nhau. Mặc dù vết thương của các thế kỷ trước hẳn vẫn còn, nhưng Giáo hội ngày nay dường như được tự do hơn bao giờ hết để thêm lần nữa xem xét vấn đề filioque, thoát khỏi những căng thẳng chính trị và đau thương quá khứ, tự do hướng đến một không gian đối thoại và phân định khoan dung mới mẻ.

ĐỌC THÊM

Bobrinskoy, Boris. The Mystery of the Trinity: Trinitarian Experience and Vision in the Biblical and Patristic Tradition. Crestwood, N.Y.: St. Vladimir’s Seminary Press, 1999.

Congar, Yves. I Believe in the Holy Spirit. 3 volumes. Translated by David Smith. New York: Crossroad, 1997. Đặc biệt xem volume 3:192-214.

Haddad, Robert M. “The Stations of the Filioque.” St. Vladimir's Theological Quarterly 2 (2002): 209-68.

Kelly, J. N. D. Early Christian Creeds. 2nd ed. London: Longmans, 1960.

Meyendorff, John. Byzantine Theology: Historical Trends and Doctrinal Themes. London: Mowbrays, 1974.

----------------------------------------

[1] Vấn đề filioque được cả hai bên viện dẫn để tuyệt thông lẫn nhau. Năm 1054, Hồng y Humbert Silva Candida tuyên bố Excommunicatio qua feriuntur Michael Caerularius atque ejus sectatores, cáo buộc Constantinople là dị giáo khi không chịu tuyên xưng filioque, còn Thượng phụ Michael Cerularius gọi đó là “thứ kỹ xảo quỷ ma” cần phải lên án. [Chú thích của người dịch-ND]

[2] Théodore de Régnon, Etudes de Théologie Positive sur la Sainte Trinité, 2 vols. (Paris: Victor Retaux et fils, 1892). Xem thêm một phê bình về hệ hình Hy Lạp/Latinh của Théodore de Régnon qua bài viết của Michel René Barnes, “Augustine in Contemporary Trinitarian Theology,” Theological Studies 56 (1995): 237-50 và bài “De Régnon Reconsidered,” Augustinian Studies 26 (1995): 51-79.

[3] Iconoclasm (Eikonoklasmos, “Phá bỏ ảnh tượng”) là trào lưu do vài hoàng đế Đông phương cầm đầu với lý do bãi bỏ những hình thức tôn thờ ảnh tượng thái quá của quần chúng. Năm 754, hoàng đế Constantinô V triệu tập một công nghị để thông qua các chính sách bài trừ ảnh tượng. Ngoại trừ các đan sĩ và giáo dân đạo đức, hầu hết các Giám mục Đông phương đã thoả hiệp tuân theo hoàng đế. Mãi đến năm 843, với Công nghị Constantinople, Giáo hội Đông phương mới kết án trào lưu và tái khẳng định giá trị của việc tôn kính ảnh thánh. Vì những xáo trộn này mà vua Frank Charlemagne và các thần học gia của ông đã liên tục công kích hoàng triều Constitantinople và Giáo hội Đông phương là lạc giáo [ND].

[4] Trong khi các Giáo hội Đông phương đã sớm đưa bản Tuyên tín Nicea-Constantinople vào Phụng vụ Thánh thể ngay sau năm 381, thì Phụng vụ Tây phương chỉ áp dụng điều này dần theo thời gian. Riêng Giáo hội Rôma, mãi đến đầu thế kỷ XI mới theo tập tục như phần còn lại của Kitô giới tuyên đọc Tín biểu Nicea-Constantinople trong Thánh lễ. Vào năm 1014, hoàng đế La Đức Henry II đến Rôma và đã rất ngạc nhiên khi thấy Thánh lễ tại đây không đọc Kinh Tin kính Nicea.  Có lẽ suốt một thời gian dài “Symbolum của Các Tông đồ” đã giữ vững đức tin cho Giáo hội Rôma mà không cần thêm các tập tục phụng vụ nào. [ND-chú thích theo J.N.D Kelly, Early Christian Creeds (Essex, UK: Longman House, 1972), 348-357].

[5] Công đồng Êphêsô năm 431 tái xác nhận tín biểu Nicea-Constantinople và ra án lệnh cấm mọi sự thay đổi tín biểu này. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện đại cho thấy cần hiểu đúng đắn hơn canon 7 của Công đồng Êphêsô và việc đưa thêm filioque của Giáo hội Tây phương không phải là bất hợp pháp. [ND].

[6] Tertulianô (155-240) là tác giả Tây phương ngoại lệ tuyên xưng Thánh Thần phát xuất từ Cha qua Con. (Adversus Praxeas 4:1). Công thức per filium được hầu hết các Giáo phụ Đông phương khai triển trong thần học của mình. Chẳng hạn, Origen (185-254) khẳng định “mọi sự đều được sản sinh nhờ Ngôi Lời, và Thần Khí thì được dựng nên từ Chúa Cha qua Chúa Kitô” (Commentarius in Evangelium Ioannis 2:6). Thánh Basiliô Cả (330-379) thì dạy “Thông qua Chúa Con, Chúa Thánh Thần hợp nhất với Chúa Cha và hoàn thành nên ‘Ba ngôi’” (De Spiritu Sanctu 18,45). Grêgôriô Nyssa (335-395) dạy “Qua Chúa Con và với Chúa Cha,[…] Chúa Thánh Thần cùng lúc được nhận diện” (Contra Eunomius 1). Thánh Gioan Đamascô (650-754) tuyên xưng “Chúa Thánh Thần là linh lực của Chúa Cha, tỏ mình trong những mầu nhiệm ẩn kín của thần tính Ngài, phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Con theo cách chỉ mình Ngài biết, nhưng khác với cách thế nhiệm sinh” (De Fide Orthodoxa I, 8). [ND]

[7] DS 805. Thực ra, tại Công đồng Latêranô IV 1215, Giáo hội Tây phương chỉ xác định Thánh Thần cùng chung một bản thể với Cha và Con (consubstantiales). “Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần, Đấng phát xuất từ cả hai Ngôi vị, là cùng một thực thể duy nhất”. Đến Công đồng Lyon II năm 1274, Giáo hội Tây phương khẳng định “một nguyên lý duy nhất” làm phát xuất Chúa Thánh Thần [ND]                                                                            

[8] DS 805. Đúng hơn, án vạ tuyệt thông này là của Công đồng Lyon II năm 1274 (DS 850) – [ND].

[9] DS 850; 853.

[10] DS 861.

[11] DS 1300-1302.

[12] John Meyendorff, Byzantine Theology: Historical Trends and Doctrinal Themes (London: Mowbrays, 1974), 91.

[13] Tại Hội nghị Lambeth 1930, Cộng đồng Anh giáo vẫn đi theo cách hiểu của thánh Gioan Đamascô và phản đối việc loại bỏ filioque, nhưng cùng với nhiều cuộc gặp gỡ Chính thống giáo Matxcơva, đến Hội nghị 1978 họ chính thức tuyên bố “tất cả mọi Giáo hội thành viên của Cộng đồng Anh giáo sẽ loại bỏ công thức filioque khỏi Kinh Tin kính Nicea” [ND].

CHÚC MỪNG VÀ CẦU NGUYỆN

Giuse Phan Thanh Liêm
Giuse Lê Văn Tín
Giuse Trần Quốc Hùng
Giuse Huỳnh Chí Khang
Giuse Nguyễn Mạnh Tường
Giuse Phạm Bảo Trường
Giuse Nguyễn Minh Trí
Giuse Võ Thái Thuận
Giuse Huỳnh Tấn Dũng
Giuse Nguyễn Mạnh Quân
Xem tất cả →